Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp cháu lớp mầm có thói quen tự phục vụ

Giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên nhưng lại mang tính nền tảng rất quan trọng

đối với việc giáo dục trẻ sau này. Tâm hồn trẻ thơ như tờ giấy trắng rất non nớt, rất trong

sáng và rất dễ tiếp thu những cái tốt cũng như những cái xấu từ bên ngoài. Tuy nhiên, ở

lứa tuổi này nếu chúng ta không biết cách uốn nắn và dạy dỗ trẻ không đến nơi thì sẽ gây

khó khăn cho các bậc học sau. Chính vì vậy mà người lớn chúng ta cần phải rèn luyện cho

trẻ những thói quen tốt ngay từ nhỏ. Như ông bà ta đã từng nói: “Dạy con từ thuở còn thơ”.

Thật vậy, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế rất nhiều các bậc phụ huynh có

ít thời gian để quan tâm và hướng dẫn con cái chính vì vậy trẻ thường hay ỉ lại và không

thể tự lo cho bản thân. Trẻ em ngày nay đã thông minh hơn, hoạt bát, lém lĩnh hơn nhiều

so với trẻ em ngày xưa. Tuy nhiên các cháu lại rất thiếu các kĩ năng sống, thiếu khả năng

tự lập và thường hay dựa dẫm vào người lớn. Khi gặp khó khăn là chúng thường tìm ngay

đến người lớn mà không tự mình tìm cách giải quyết. Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển

nhận thức, tình cảm của trẻ. Vì thế, để đạt được mục tiêu của ngành đưa ra thì giáo viên

như tôi phải tìm cách hướng dẫn và chỉ bảo cho trẻ những kĩ năng sống, kĩ năng tự phục

vụ, kĩ năng giao tiếp ngay từ bây giờ.

pdf16 trang | Chia sẻ: duycoi179 | Ngày: 01/04/2016 | Lượt xem: 22031 | Lượt tải: 577Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp cháu lớp mầm có thói quen tự phục vụ", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
sóc mình cũng là cách giúp đỡ những người trong gia 
đình Trẻ không biết tự chăm sóc mình thì sẽ không cảm nhận được sự vất vả khi làm 
việc gì, không thông cảm và thấu hiểu thì trẻ sẽ không có sự chia sẻ, gắn bó với những tình 
cảm mà người thân đã giành cho mình. 
2.3.2.1.1. Kĩ năng tự chăm sóc bản thân như: Tự nhặt đồ chơi, tự cởi và mặc quần áo, rửa 
mặt, tay, đánh răng, tự đi dép, chuẩn bị mũ, áo khoác, khẩu trang khi đi ra ngoài, tự ăn, tự 
đi lên xuống cầu thang. 
Trẻ ở độ tuổi này hoàn toàn có thể tự chăm sóc bản thân, chính vì vậy tôi chỉ cần 
khuyến khích và động viên trẻ trong những buổi học đầu tiên. 
Ngay từ những ngày đầu tiên đến trường, tôi hướng dẫn trẻ cách tự mặc quần áo, 
gấp quần áo, cất quần áo vào đúng nơi quy định. Công việc này yêu cầu phải có thời gian 
và người GV phải kiên nhẫn. Nhờ vậy mà sau gần một tháng, trẻ hình thành thói quen tự 
lập trong việc chăm sóc bản thân. 
2.3.2.1.2. Kĩ năng tự chăm lo vệ sinh cá nhân như: Tự cho quần áo bẩn vào máy giặt, lau 
nước trên sàn, lau bụi trên bàn, gạt nước sau khi đi vệ sinh, đi vệ sinh đúng nơi, bỏ rác 
8 
đúng nơi quy định. 
Tôi hướng dẫn trẻ cách vệ sinh cá nhân như: rửa tay, rửa mặt, đánh răng, tắm. Dạy 
trẻ cách an toàn khi thực hiện các việc vệ sinh cá nhân. Tạo cho trẻ có ý thức tự giác chăm 
lo vệ sinh cá nhân thông qua các câu truyện, hoạt động học tập trên lớp. 
2.3.2.1.3. - Kĩ năng hỗ trợ người khác: Bật tivi, bật quạt, lấy chén ăn cơm, lấy ly uống 
nước, cất dép đúng quy định, xách phụ đồ, tưới cây, dọn dẹp bàn ghế sau khi ăn xong. 
2.3.2.2. Hướng dẫn trẻ phát triển kĩ năng tự bảo vệ 
Để các cháu có thể tự phục vụ mình tốt hơn, các cháu phải có các kĩ năng tự bảo vệ 
2.3.2.2.1. Kĩ năng nhận biết nguy hiểm 
Dạy trẻ học cách nhận biết đồng thời hành động những hành động đúng và kịp thời 
bảo vệ bản thân qua các tình huống. Các mối nguy hiểm trong nhà như: gas, bàn ủi, điện, 
nước nóng, dao kéo. Các mối nguy hiểm ngoài xã hội: Quấy rối, bắt cóc, bắt nạt, trộm cắp, 
cướp, lạc đường. Các mối nguy hiểm bất ngờ: Cháy nổ, kẹt thang máy, chó cắn, ong đốt, 
ngộ độc Các mối nguy hiểm ngoài môi trường: động đất, lũ lụt, bị sa vào vũng lầy, sông 
nước. 
2.3.2.2.2. Kĩ năng tự xoay sở 
Không phải những vấn đề trong cuộc sống đều được giải quyết một cách dễ dàng 
và bạn sẽ phải truyền đạt điều ấy cho trẻ khi chúng đối mặt với thử thách lớn và không phải 
lúc nào cũng có người lớn bên cạnh để giúp trẻ giải quyết vấn đề. Khi trẻ gặp phải một vấn 
đề nào đấy, tôi không thay trẻ giải quyết mọi vấn đề, trừ trường hợp bắt buộc phải làm như 
thế. Thay vào đó, tôi giúp các em tìm kiếm giải pháp thích hợp, điều này sẽ thể hiện sự tin 
tưởng của mình đối với trẻ có khả năng tự giải quyết vấn đề. Những việc hằng ngày mà tôi 
thực hiện luôn nhằm khuyến khích kĩ năng giải quyết vấn đề của trẻ giúp trẻ có những sáng 
kiến tốt hơn trong cuộc sống khi chúng lớn lên. Tôi chỉ là chỗ dựa cho học sinh của tôi chứ 
không phải là người giải quyết vấn đề cho các em. 
2.3.2.3. Hướng dẫn trẻ phát triển kĩ năng thích nghi 
Thích nghi là một kĩ năng sống quan trọng vì nếu kĩ năng giao tiếp là bước đầu để 
tiếp xúc với môi trường bên ngoài với những người xung quanh, thì thích nghi chính là 
bước tiếp theo để có thể hòa nhập hoặc phản ứng lại với môi trường bên ngoài. 
9 
Đứa trẻ nếu có kĩ năng giao tiếp tốt có thể đạt được những thành công với những 
người xung quanh trong việc tham gia vào các hoạt động cùng với họ, là bố mẹ ông bà hay 
các bạn của trẻ. Thế nhưng nếu trẻ không có khả năng thích nghi thì cũng khó mà đạt được 
những kết quả tốt cho cuộc sống của mình. 
2.3.2.3.1. Kĩ năng thích nghi các loại thức ăn 
Đôi khi trẻ có những sở thích hơi đặc biệt về ăn uống, chỉ thích ăn vài loại thực 
phẩm nhất định, uống vài loại sữa hay thức uống nhất định – Điều đó thường là do chính 
chúng ta vô tình tập cho trẻ khi còn bé, vì thế một mặt chúng ta vẫn chấp nhận và tôn trọng 
những sở thích này nhưng vẫn nên tập cho trẻ có khả năng ăn uống đa dạng, vì nếu không 
có những sở thích về ăn uống của trẻ sẽ gây ra những khó khăn, rắc rối đặc biệt là trong 
các chuyến đi chơi xa. 
– Các bữa ăn cho trẻ ở trường tôi luôn tạo không gian thoáng mát, hợp vệ sinh, đảm bảo 
an toàn cho trẻ để trẻ ăn ngon miệng. 
– Bữa nào trẻ ăn được thì tôi sẽ gắn một bông hoa và một khuôn mặt tươi cười, bữa nào trẻ 
khó ăn, không tập trung ăn thì sẽ có một khuôn mặt mếu. Đến cuối tuần làm tổng kết và 
khen ngợi trẻ về các khuôn mặt cười và tặng cho trẻ một món quà nho nhỏ. Nhưng nếu 
nhiều khuôn mặt buồn thì cũng không nên trách mắng, mà tôi khuyến khích: “Cô biết là 
còn sẽ làm tốt hơn” 
– Trước bữa ăn để tạo cảm giác ăn ngon miệng và thích thú khi ăn, tôi giới thiệu tên các 
món ăn và tác dụng của những loại thực phẩm mà trẻ ăn thật hấp dẫn và thu hút. 
2.3.2.3.2. Kĩ năng thích nghi với môi trường 
Với môi trường sống cũng thế, một môi trường bẩn thỉu và ô nhiễm là không thể 
chấp nhận được, nhưng một không gian quá sạch sẽ cũng không phải là một điều kiện tốt 
cho sự phát triển của trẻ. Trẻ có thể nghịch cát, đất trong một chừng mực vừa phải vì điều 
đó giúp cho các bé vừa thỏa mãn được tính năng động, vừa nâng cao khả năng đề kháng. 
Dĩ nhiên là nên có sự giám sát của người lớn, nhưng chúng ta chỉ can thiệp khi có những 
dấu hiệu của sự nguy hiểm, còn đối với một vài cú vấp ngã của trẻ thì cứ để cho trẻ tự đứng 
lên, điều đó không chỉ giúp trẻ mạnh dạn và tự tin hơn mà còn cho chúng ta tránh được 
những sự mè nheo của trẻ. Quan điểm của tôi là rèn luyện tính chịu đựng trước khó khăn 
và phải tự lập chủ động trong mọi biến cố có thể xảy ra. Qua những bài rèn luyện thể chất, 
10 
rất ít trẻ mắc bệnh về đường hô hấp như sổ mũi, viêm họng... do thay đổi thời tiết. 
2.3.2.3.3. Kĩ năng thích nghi với đám đông 
Con người có hai loại tính khí chính là tính hướng nội và tính hướng ngoại, và trong 
mỗi loại tính cách đó lại có 4 nhóm cá tính khác nhau. Các nhóm này thường có sự phối 
hợp để tạo nên những mẫu người có cá tính khác nhau. Vì vậy, tôi cho trẻ làm quen với 
đám đông phải dựa trên tính cách của các trẻ, tùy trẻ thuộc loại tính khí nào! Với trẻ hướng 
ngoại thì chúng ta không cần lo ngại, vì trẻ thường có xu thế thích đám đông, thích sự ồn 
ào vui vẻ, náo nhiệt, thích các hoạt động tập thể. Còn với trẻ hướng nội thì trẻ sẽ ngại tiếp 
xúc với đám đông, có vẻ như dụt dè nhút nhát. Nhưng các bé cũng có những ưu điểm để 
có thể thành công, đôi khi còn tốt hơn cả trẻ hướng ngoại nếu được sự định hướng đúng 
cách của người lớn. Tôi giúp trẻ quen dần với đám đông qua việc cho trẻ tham gia các giờ 
học dã ngoại, tham gia các hoạt động ở trường. 
Ngoài ra, trong việc hòa nhập với xã hội, tôi tập cho trẻ những thói quen ứng xử với 
một phong cách văn minh, lịch sự qua những hoạt động hằng ngày ở trường: 
– Thói quen biết xếp hàng: Đây là một thói quen mà hầu hết người lớn chúng ta không để 
ý khi tham gia vào các hoạt động chung. Nhưng hãy cố gắng làm gương và tập cho trẻ có 
thói quen xếp hàng ngay từ nhỏ để dẩn dần thay đổi được một cách ứng xử kém văn hóa 
nơi công cộng là sự chen lấn nhau. 
Ở lớp tôi rèn cho trẻ thói quen xếp hàng (không chen ngang, xô đẩy bạn..) khi tham 
gia vào một hoạt động nào đó như: cùng nhau xếp hàng đi chơi công viên 
– Thói quen bỏ rác vào thùng rác: Ngay tại lớp học, tôi cho đặt thùng rác ở nơi qui định, 
để trẻ thấy việc bỏ rác là 1 thói quen trong lớp. Khi đi chơi ngoài sân trường, cũng cần bỏ 
rác và hướng dẫn cho trẻ bỏ rác vào các thùng rác công cộng để hình thành thói quen này. 
Thường xuyên nhắc nhở trẻ vứt rác vào đúng nơi quy định. 
– Thói quen biết nói xin lỗi và cám ơn: Ngay từ bé, chúng ta cũng cho trẻ thấy cách ứng 
xử như vậy của người lớn và khi giao tiếp với trẻ, chính tôi cũng phải nói xin lỗi và cám 
ơn trẻ – Như thế, trẻ sẽ cảm nhận được một cách tự nhiên các cách ứng xử này. 
Kĩ năng thích nghi là một trong những kĩ năng giúp một đứa trẻ bình thường, không 
có những năng lực đặc biệt gì nhưng vẫn có thể đạt được những thành công nhất định trong 
cuộc sống và không gục ngã trước những thách thức khi bước vào đời. 
11 
Để giúp trẻ hình thành được các kĩ năng trên, tôi từng bước, tùy từng trẻ mà thực 
hiện: 
– Đối với trẻ nói chưa thạo, tôi sẽ nói chậm rãi khi hướng dẫn trẻ, dạy trẻ cách truyền đạt 
thông tin với cô giáo bằng cách ra hiệu khi cần giúp đỡ. Song song đó tôi sẽ đưa các đề tài 
rèn kĩ năng tự phục vụ vào bài giảng hàng ngày và tiếp tục rèn các kĩ năng này ở mọi lúc 
mọi nơi cho đến khi trẻ thuần thục. Và tôi sẽ cho trẻ thực hiện mỗi ngày để nó dần trở thành 
thói quen tốt của trẻ. Tận dụng các tình huống cụ thể từ trẻ để rèn kĩ năng cho trẻ, như thế 
trẻ sẽ nhớ lâu hơn. 
– Tôi thường xuyên động viên, khích lệ cổ vũ trẻ, kịp thời khen trẻ khi cháu làm được và 
làm tốt những công việc tự phục vụ. Nêu gương trước cả lớp những bạn năng nổ, tích cực 
phụ giúp cô. 
– Tôi nhẹ nhàng và chỉ dẫn tận tình cho trẻ, tạo cho trẻ cảm giác tự tin là mình có thể làm 
được và làm tốt. Đây cũng là cơ hội để cô và trẻ gần nhau và hiểu nhau hơn. 
– Thường xuyên trao đổi thông tin giữa giáo viên và phụ huynh của trẻ. Giáo viên cần tìm 
hiểu thêm thông tin về trẻ từ phụ huynh: Ở nhà, cháu có hay giúp đỡ ba mẹ không? Cháu 
thích làm những việc gì giúp mẹ, bố mẹ có để cho trẻ tự phục vụ bản thân những việc vừa 
sức không: Mang giày dép, xếp quần áo của mình, tự xúc ăn...? 
– Ngoài việc tìm hiểu từ phụ huynh thì tôi thường xuyên phản hồi thông tin về trẻ cho phụ 
huynh nắm: Ở lớp, cháu là người như thế nào? Cháu có hay giúp cô không? Những việc 
trẻ làm tốt khi ở lớp... để phụ huynh tiếp tục khuyến khích cho cháu làm tốt khi ở nhà nhằm 
xây dựng thói quen tốt cho trẻ. 
– Ngoài việc cổ vũ những cháu năng động tích cực phát huy khả năng, tôi chú ý đến những 
cháu còn chậm tiếp thu chưa tốt, rụt rè. Tạo cơ hội để cháu được tự làm những việc vừa 
sức, hướng dẫn trẻ mọi lúc mọi nơi: Con cứ làm đi, đừng sợ sai, con làm được đấy, cô 
không mắng đâu!... Khi hướng dẫn trẻ thì giọng nói của tôi cần nhẹ nhàng, chậm rãi, tạo 
sự gần gũi. Tránh những câu nói mệnh lệnh, cứng nhắc: Làm nhanh đi, làm cái này nè, làm 
sai rồi... 
– Tôi không ngừng trao dồi năng lực chuyên môn, học hỏi nơi bạn bè, đồng nghiệp tìm 
kiếm những phương pháp giảng dạy mới, hay, áp dụng các biện pháp giáo dục linh hoạt 
nhằm rèn luyện cho cháu có nề nếp, có kĩ năng sống và thói quen tự phục vụ tốt đảm bảo 
12 
là cháu được hoạt động một cách chủ động, linh hoạt. 
– Khi hướng dẫn trẻ một kĩ năng nào đó, tôi hướng dẫn một cách chậm rãi từng thao tác 
một. Khi trẻ đã nắm được thao tác này thì tôi mới chuyển sang thao tác khác. Tôi cho trẻ 
được thực hiện thường xuyên, liên tục để trở thành kĩ năng, tạo cho trẻ cảm giác phấn khởi 
là mình cũng giỏi như bạn. Ví dụ: Đối với trẻ xúc ăn chưa thạo. Ban đầu tôi chấp nhận việc 
cơm sẽ rơi vãi ra nhà hoặc trẻ cho cơm vào mũi. Hoặc đối với trẻ chưa biết cách uống nước 
tôi đổ chút ít nước vào trong ly và cho cháu tự cầm ly uống, trẻ uống như thế nào là tùy 
trẻ, lâu dần bản thân trẻ sẽ tự điều chỉnh cho tốt hơn do đã được trải nghiệm nhiều lần và 
đã có kinh nghiệm ở những lần thất bại trước. Để trẻ có được điều này đòi hỏi chúng ta 
phải chịu cực đôi chút, kiên nhẫn chờ đợi sự tiến bộ từng ngày nơi con trẻ của chúng ta. 
2.3.3. Xác định thời gian dạy trẻ càng sớm càng tốt 
Đặc điểm tâm lý của trẻ nhỏ là thích bắt chước, tôi luôn tạo cơ hội để trẻ làm những 
việc này khi trẻ muốn. Ví dụ: trẻ muốn mở cửa thì những cánh cửa nhỏ trẻ có thể đưa tay 
đến tay nắm được, tôi để bé tự mở, đồng thời hướng dẫn cho trẻ từ cách đút chìa khóa, vặn 
khóa và mở khóa. Nếu cháu muốn tự đi dép trước khi đi ra ngoài, tôi chờ cháu đi dép chứ 
không “đi hộ trẻ cho nhanh”. 
2.3.4. Xây dựng môi trường làm việc ngay tại gia đình 
Việc hướng dẫn và rèn luyện các kĩ năng tự phục vụ cho trẻ nếu chỉ có cô giáo và 
nhà trường thì không thể thành công mà phải có sự phối hợp của các thành viên trong gia 
đình trẻ như: cha mẹ, ông bà, anh em, 
Các thành viên trong gia đình luôn tạo mọi cơ hội cho bé nhìn thấy các việc làm và 
cách thức làm việc của mình, đồng thời nên giải thích cho bé về việc đó (dù bé có hiểu hay 
không). Sau đó nên khuyến khích trẻ tham gia vào công việc phù hợp với khả năng. 
Ví dụ: Mẹ đang nhặt rau để nấu canh, hãy giải thích và bảo con trai cùng làm hộ. Sau đó 
mẹ hướng dẫn bé cách nhặt rau, mặc dù có thể trẻ làm chưa khéo, làm cho rau bị dập nhưng 
hãy cho cháu làm để có cơ hội rèn luyện lòng yêu thích công việc cũng như các kĩ năng 
làm việc nhà ngay từ nhỏ. Có thể tích cực “nhờ vặt” để trẻ có nhiều cơ hội được làm việc 
thì bé mới có được kĩ năng. Không nên có suy nghĩ đợi trẻ lớn mới dạy, thậm chí có thể 
dạy từ khi bé được 16 tháng tuổi, đừng sợ trẻ làm hư, làm vỡ mà làm thay. 
2.3.5. Phân công công việc 
13 
Trong lớp, tôi phân công công việc cho từng thành viên để bé hiểu rằng mỗi người 
đều có trách nhiệm với công việc và hình thành thói quen làm việc. Khi tổ chức các hoạt 
động ở lớp có thể phân công công việc cho các bé, cho bé phụ giúp cô trong giờ ăn: Lấy 
ghế, lấy khay và khăn ăn, với trẻ lớn hơn có thể giúp cô kê bàn, chia chén muỗng, giúp 
cô trải chiếu, lấy chăn gối, đệm chuẩn bị giờ ngủ. 
Khi về nhà, tôi cũng thường nhắc cha mẹ các bé cũng phân công công việc cho bé. 
Chẳng hạn khi cha mẹ đi làm về, hãy yêu cầu bé phụ mẹ cất dép hoặc giày của mẹ lên kệ. 
Cứ như thế trẻ sẽ có thói quen hễ thấy mẹ về đến nhà là chạy đến đòi cất giày cho mẹ. Khi 
đi siêu thị hay đi chợ cha mẹ hãy cho cháu theo và chia cho cháu một món đồ nhỏ để xách 
cùng. Cần tập và lặp đi lặp lại để trẻ hình thành thói quen. Tuy nhiên khi thấy bé mệt thì 
không nên bắt ép. 
2.3.6. Duy trì thói quen và cách làm việc 
Việc hình thành một hành động tự phục vụ là điều không khó nhưng cái khó là hình 
thành thói quen cho trẻ. Chính vì vậy, tôi thường xuyên: Phân công công việc cụ thể; cho 
trẻ được làm nhiều lần; có những biện pháp khen thưởng, khích lệ, động viên. 
2.3.7. Khuyến khích kết quả tốt đẹp trẻ làm được 
Việc khen ngợi cần được xem như hành động công nhận trẻ đã hoàn thành công 
việc nào đó, cho dù chúng chỉ hoàn thành ở mức sơ sài nhất. Cụ thể tôi đưa ra những lời 
nhận xét tích cực sau mỗi việc mà trẻ đã làm. Tôi không bao giờ dùng những từ khen ngợi 
quá đáng cho một hành động đơn giản. Thay vào đó là những lời động viên tích cực như: 
con đánh răng sạch quá, miệng con rất thơm vì con đã đánh răng, cảm ơn con vì đã sắp xếp 
dép cho lớp, con đi vệ sinh đúng nơi quy định rồi đó, cảm ơn con đã cất dọn đồ chơi gọn 
gàng cho cô, cô rất vui khi các con giúp cô lau sạch lá cây, 
Các hình thức tôi thường dùng để khen, tuyên dương những hành động tốt trước 
lớp: cho trẻ được cắm cờ,  
3. Kết quả 
Trên đây chỉ là một số biện pháp của riêng cá nhân tôi rút ra từ kinh nghiệm giảng 
dạy, và thực tiễn cuộc sống xung quanh tôi. Những biện pháp trên đã giúp trẻ của lớp tôi 
có thói quen tự phục vụ tốt hơn. Ngay khi mới vào lớp, nhiều trẻ của tôi chưa có kĩ năng 
tự phục vụ hoặc tự phục vụ chưa tốt, qua một quá trình rèn luyện cho trẻ với các biện pháp 
14 
mà tôi đã thực hiện. Giờ đây thì trẻ của tôi đã tiến bộ lên rất nhiều, nhiều cháu có thói quen 
tự phục vụ rất tốt, cháu thích thú được giúp cô và tự tin đề nghị với người lớn để trẻ được 
làm: Mẹ, cô để con làm cho, con biết làm mà..., cháu chủ động và mong chờ được ba mẹ, 
cô giáo và người lớn nhờ giúp (bảng 2). Chính những điều này tạo cho tôi niềm phấn khởi 
và yêu nghề hơn. 
Nội dung khảo sát 
Nội dung khảo sát 
Đạt 
Đạt Số lượng Tỉ lệ 
- Tự cầm ca nước để uống 
1. Kĩ năng giao tiếp 
42 
20 
100 
39 - Tự xúc cơm ăn 
2. Kĩ năng thích nghi 
42 
16 
100 
31 
- Tự dẹp chén sau khi ăn 
3. Kĩ năng tự phục vụ và tự bảo vệ 
42 
15 
100 
29 - Tự cởi, mặc quần áo 
42 
100 
 - Đánh răng sau khi ăn 42 
100 
 - Tự mang giày, dép 42 
100 
- Tự xếp mền, gối sau khi ngủ dậy 42 
100 
 - Khả năng trẻ tự làm mà không cần GV nhắc nhở 41 97.6 
Bảng 2. Kết quả đạt được cuối năm học về kĩ năng tự phục vụ của trẻ 
4. Bài học kinh nghiệm 
Qua thực tiễn đã giúp tôi rút ra một số kinh nghiệm sau: 
– Không được xem nhẹ vấn đề giáo dục thói quen tự phục vụ cho trẻ trong quá trình chăm 
sóc và giáo dục trẻ nhà trẻ. 
– Giáo viên tránh làm thay trẻ, nên giao việc cho từng trẻ, tạo cơ hội cho cháu chủ động 
hoạt động, để cháu có trách nhiệm với công việc mà mình được giao. Cô cần đặt niềm tin 
vào trẻ rằng trẻ của mình có thể làm được. Điều này sẽ giúp trẻ tự tin vào khả năng của 
mình. 
– Bằng những kinh nghiện thực tế trên đã chứng minh cho mọi người rằng: Dù là trẻ ở lứa 
tuổi nào đi nữa thì người lớn chúng ta cũng nên tôn trọng trẻ, nên yêu thương và gần gũi 
trẻ. Đó chính là điều kiện để góp phần giúp thế hệ tương lai của đất nước sống có ích hơn, 
yêu lao động và yêu cuộc sống hơn. 
– Phải luôn đặt cái tâm của người giáo viên lên hàng đầu: ‘Cô giáo như mẹ hiền”. Cần tạo 
cho trẻ cảm nhận: ‘Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Hãy yêu thương trẻ như con của 
15 
mình, tận tình chỉ dạy trẻ. 
– Khi thực hiện thì tránh nôn nóng, sợ mất thời gian mà phải thực hiện kiên trì, liên tục và 
xuyên suốt. 
– Bản thân cần phải tích cực tìm tòi học hỏi, nhận thức sâu sắc những nội dung giáo dục 
và lựa chọn nội dung phù hợp đưa vào dạy trẻ lớp mình. 
– Mạnh dạn dám nghĩ, dám làm, khắc phục mọi khó khăn để thực hiện thành công ý tưởng 
của mình. 
– Phát huy sức mạnh tổng hợp của nhà trường, phụ huynh cùng toàn thể CB – GV/NV 
trong công tác giáo dục và hình thành kĩ năng tự phục vụ cho trẻ. 
– Tổ chức nhiều hoạt động tạo mọi cơ hội để trẻ được hình thành kĩ năng này. 
– Kết hợp chặt chẽ với phụ huynh, tạo uy tín và tiềm năng đối với phụ huynh và đối với 
trẻ. 
Phần 3. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 
3.1. Kết luận 
Yếu tố tạo nên tính tự phục vụ ở mỗi cá nhân là khả năng tin tưởng vào những đánh 
giá của bản thân, cũng như là tự vạch ra con đường đi cho mình mà không cần lúc nào cũng 
nhờ đến sự chỉ bảo, hay tìm kiếm sự giúp đỡ từ người khác. Có được khả năng này là một 
điều tuyệt với, bởi nó sẽ giúp trẻ hạnh phúc hơn, thu hút được sự chú ý của mọi người xung 
quanh, từ đó khuyến khích trẻ tạo ra những cơ hội để trẻ thể hiển mình. Những đứa trẻ biết 
tự phục vụ từ nhỏ thì nhanh nhẹ và hoạt bát, nổi trội hơn hẳn so với những trẻ khác. 
Còn đối với trẻ mầm non rất nhiều trẻ xuất hiện tình trạng dựa dẫm, ỷ lại, được 
nuông chiều một cách thái quá dẫn đến không biết làm một số việc đơn giản như không 
biết mặc quần áo, không biết tự đi giày, dép, không thích tự đi mà thích được người lớn bế 
ẵm Trẻ không biết cách chăm sóc bản thân, không biết giữ gìn vệ sinh, lười nhác không 
biết hỗ trợ người khác. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này trong đó thiếu tính 
tự lập là một nguyên nhân trọng tâm nhất. Như chúng ta đã biết, trẻ em là một đối tượng 
khá nhạy cảm, nếu trẻ em được tiếp xúc với nền giáo dục tốt thì trẻ phát triển theo chiều 
hướng tốt. Ngược lại nếu trẻ em tiếp xúc với nền giáo dục không đúng đắn sẽ dẫn đến các 
hậu quả tiêu cực. Do đó việc giáo dục tính tự phục vụ cho trẻ cần được áp dụng càng sớm 
càng tốt và là phương pháp rất quan trọng và cần thiết. 
16 
Tạo cho trẻ biết tự phục vụ không phải chỉ có hướng dẫn cho trẻ tự lo cho bản thân 
mà còn giúp trẻ tự quyết định các vấn đề của mình. Đó cũng là cách giúp trẻ vận động suy 
nghĩ, sáng tạo và tự tin. 
3.2. Khuyến nghị 
– Mở lớp tập huấn chuyên môn về nội dung giáo dục kĩ năng sống cho giáo viên đến từng 
cơ sở. 
– Tuyên truyền nội dung giáo dục kĩ năng sống cho trẻ Mầm Non trên đài báo, ti vi nhằm 
nâng cao nhận thức của cha mẹ học sinh. 
– Tăng cường cơ sở vật chất, kinh phí để các trường tổ chức các hoạt động tập thể có quy 
mô, chất lượng cao. 
Cuối cùng tôi rất mong được sự quan tâm, bổ sung, góp ý của các cấp lãnh đạo cho 
đề tài của tôi được hoàn thiện hơn. 
 Quận 11, ngày 28 tháng 11 năm 2015 
 Người viết, 
 Vương Thanh Ngọc Thủy 

File đính kèm:

  • pdfkinh_nghiem.pdf
Sáng Kiến Liên Quan