Sáng kiến kinh nghiệm Làm việc theo cặp hoặc tổ (nhóm) - Áp dụng cho sách giáo khoa Tiếng Anh 7 (Pair work and group work in grade)

Thứ nhất, khi chia nhóm ra để học, học sinh sẽ có cơ hội tương tác, hay nói khác hơn là trực tiếp học từ bạn mình, từ đó rút ra được những kiến thức mà vì nhiều lí do, các em chưa thể lĩnh hội được.

 Thứ hai, phương pháp này sẽ phát huy tính tự lập của học sinh. Các em sẽ tự suy nghĩ, suy luận, thảo luận để cùng tìm ra một phương án tốt nhất. Và đây chính là điều người giáo viên cần : Dù phương án các em đưa ra có đúng với đáp án hay không, thì những kiến thức các em vừa thảo luận sẽ hằn sâu vào bộ nhớ của các em, giúp các em hiểu bài và nhớ lâu hơn.

 Thứ ba, đối với bộ môn tiếng Anh, khi chia nhóm để học, học sinh sẽ có nhiều cơ hội để thực hành nói tiếng Anh hơn. Trong một lớp học được chia làm 4 nhóm thì cơ hội nói tiếng Anh nhiều gấp 4 lần một lớp học không chia nhóm.

 Thứ tư, khi chia nhóm thì hầu

 như tất cả các học sinh đều hoạt động kể cả các học sinh yếu vì các em sẽ bị cuốn hút vào những hoạt động sôi nổi của các bạn ngay trước mắt mình. Điều này cũng sẽ giúp các em học sinh nhút nhát trở nên bạo dạn hơn.

 

doc10 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 06/08/2015 | Lượt xem: 1717 | Lượt tải: 58Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Làm việc theo cặp hoặc tổ (nhóm) - Áp dụng cho sách giáo khoa Tiếng Anh 7 (Pair work and group work in grade)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
I/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
	N
ăm học 2003 - 2004 là năm học thứ hai Bộ giáo dục - đào tạo thực hiện chương trình đổi mới sách giáo khoa Trung học cơ sở. Là một giáo viên mới ra trường, được phân công trực tiếp giảng dạy một số lớp 7, những ngày đầu, tôi khá bỡ ngỡ với chương trình và nội dung khá mới mẻ của bộ sách giáo khoa cải cách. Nhưng qua một thời gian giảng dạy, kết hợp với việc dự giờ một số giáo viên lâu năm cùng với việc tự tìm tòi nghiên cứu, tôi đã rút ra một số kinh nghiệm trong việc giảng dạy chương trình mới. Và phương pháp chia học sinh thành cặp hoặc tổ (nhóm) (pair work and group work) đã được tôi áp dụng thường xuyên và tỏ ra khá hiệu quả. Và hôm nay, thực hiện sự chỉ đạo của nhà trường về việc mỗi giáo viên viết một sáng kiến kinh nghiệm, tôi xin chọn đề tài làm việc theo cặp hoặc tổ (nhóm) - áp dụng cho sách giáo khoa tiếng Anh 7 (pair work and group work in grade 7) cho bài viết của mình.
II/ NỘI DUNG 
	1.Về sách giáo khoa tiếng Anh 7 :
	Tiếng Anh 7 là cuốn sách thứ hai trong chương trình tiếng Anh gồm 4 cuốn dành cho học sinh Trung học cơ sở (THCS) ở Việt nam. Cuốn sách dành cho các em học sinh 7 đã học xong cuốn tiếng Anh 6. Nội dung sách bao gồm các chủ điểm gần gũi với cuộc sống, sát thực với mục đích, nhu cầu và sở thích của các em.
	Tiếng Anh 7 tiếp tục giúp các em luyện tập để có thể nghe, nói, đọc, viết được tiếng Anh ở mức độ đơn giản thông qua các nội dung bài học đa dạng.
	Về cấu trúc, tiếng Anh 7 bao gồm 16 đơn vị bài học, trong mỗi đơn vị bài học có nhiều hoạt động khác nhau: Listen - Read; Listen - Repeat; Ask - answer; Practice with a partner; True - False; Match; Read.... Mỗi hoạt động tương ứng với một số các kỹ năng trong tiếng Anh như nghe, nói, đọc, viết và nội dung của từng chủ đề.
	2. Về làm việc theo cặp hoặc tổ (nhóm) (pair work and group work:
	Trong dân gian ta có câu “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” để nói lên tác dụng khác nhau của cá nhân và tập thể, hay là của nhóm nhỏ trong quá trình tiếp thu kiến thức. Phương pháp dạy học tích cực đã đề cao vai trò của tập thể và tính chủ động của học sinh. Quan sát học sinh THCS ở lứa tuổi này, tôi nhận thấy các em đang ở trong thời kỳ tiếp tục phát triển và hoàn thiện cả về thể chất lẫn tâm lí trí tuệ. Ở lứa tuổi này học sinh khi học một vấn đề gì đã biết nhận xét, đánh giá, tìm ra nguyên nhân của hiện tượng.Tư duy của các em phát triển, biết quan sát, phân tích, so sánh, suy luận và khái quát. Các em rất bị cuốn hút vào các hình thức hoạt động tự lập trên lớp và sự tương tác với các bạn của mình. Do đó, khi tổ chức được một hoạt động học tập hợp lí sẽ thôi thúc các em tìm tòi khám phá trong giờ học của mình. Và chính điều này đã giúp tôi nghiên cứu, tìm tòi học hỏi để tìm ra phương pháp dạy làm sao cho đạt được hiệu quả cao nhất. Khi chia nhóm ra để giảng dạy, tôi nhận thấy có nhiều ưu điểm cho việc thực hiện một tiết dạy thành công :
	Thứ nhất, khi chia nhóm ra để học, học sinh sẽ có cơ hội tương tác, hay nói khác hơn là trực tiếp học từ bạn mình, từ đó rút ra được những kiến thức mà vì nhiều lí do, các em chưa thể lĩnh hội được.
	Thứ hai, phương pháp này sẽ phát huy tính tự lập của học sinh. Các em sẽ tự suy nghĩ, suy luận, thảo luận để cùng tìm ra một phương án tốt nhất. Và đây chính là điều người giáo viên cần : Dù phương án các em đưa ra có đúng với đáp án hay không, thì những kiến thức các em vừa thảo luận sẽ hằn sâu vào bộ nhớ của các em, giúp các em hiểu bài và nhớ lâu hơn.
	Thứ ba, đối với bộ môn tiếng Anh, khi chia nhóm để học, học sinh sẽ có nhiều cơ hội để thực hành nói tiếng Anh hơn. Trong một lớp học được chia làm 4 nhóm thì cơ hội nói tiếng Anh nhiều gấp 4 lần một lớp học không chia nhóm. 	
	Thứ tư, khi chia nhóm thì hầu
 như tất cả các học sinh đều hoạt động kể cả các học sinh yếu vì các em sẽ bị cuốn hút vào những hoạt động sôi nổi của các bạn ngay trước mắt mình. Điều này cũng sẽ giúp các em học sinh nhút nhát trở nên bạo dạn hơn.
	Cuối cùng, hoạt động chia nhóm sẽ giúp giáo viên chú ý đầu tư và nghiên cứu bài dạy kỹ hơn, đồng thời vai trò của người giáo viên cũng trở nên quan trọng hơn. Lúc này, người được “phỏng vấn” nhiều nhất trong tiết học có lẽ là giáo viên, thậm chí họ được học sinh coi như là một cuốn “từ điển sống” để có thể tham khảo một số từ vựng hoặc ngữ pháp. Do đó, việc chuẩn bị bài giảng thật kỹ và sự đòi hỏi một kiến thức chuyên môn thật vững vàng là điều người giáo viên phải lưu tâm đầu tiên.
	Bên cạnh những ưu điểm thì cũng xuất hiện một số nhược điểm khi chia lớp ra thành từng nhóm để làm việc. Nhược điểm đầu tiên và cũng dễ nhận thấy nhất là sự ồn ào, và điều này lại càng không thể tránh khỏi đối với đặc thù của bộ môn tiếng Anh : càng sử dụng tiếng Anh nhiều thì càng tốt. 
	Một nhược điểm nữa cũng thường xảy ra, đó chính là sự lãng phí thời gian (time - wasting). Nếu như người giáo viên không khống chế được lượng thời gian khi cho học sinh thảo luận và không bao quát được lớp thì việc tự “đốt cháy giáo án” là không tránh khỏi. Tôi đã gặp một tình huống như sau : Sau khi chia lớp ra thành 8 nhóm để thảo luận, sau một thời gian thì có 5 nhóm hoàn thành nhiệm vụ của mình, còn 3 nhóm vẫn chưa xong. Nghĩ rằng do yêu cầu khó quá, tôi cho các em thêm một khoảng thời gian nữa để làm việc, nhưng cũng không hoàn thành. Lúc này tôi đến tận nơi để xem, thì ra các em làm xong đã lâu, nhưng lại để cho các học sinh yếu chép vào trong vở nên nghĩ là chưa xong. Điều đó cho thấy sự bao quát của giáo viên là rất cần thiết.
	Một điều mà tôi cũng rất muốn nêu ra trong bài viết này, đó chính là tập cho các em có thói quen làm việc theo nhóm. Sau một hai tiết chia nhóm, học sinh đã hình thành ý niệm về cách thức làm việc theo nhóm. Lúc này giáo viên nên hướng dẫn thêm cho các em về phương pháp thảo luận, làm việc sao cho có hiệu quả nhất. Như vậy từ các tiết sau trở đi, học sinh sẽ dễ dàng nắm bắt được nhiệm vụ của thầy giáo đưa ra là gì và sẽ làm việc theo hướng nào.
	3. Tổ chức một tiết học có chia nhóm :
	a) Tùy mục đích yêu cầu của từng bài học, lớp sẽ được phân chia thành nhiều nhóm : nhóm 2 người (cặp), nhóm 4 người, nhóm 6 người, nhóm 10 người hoặc nửa lớp là một nhóm.... Các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc có chủ định, ổn định trong cả tiết học hoặc thay đổi trong từng phần của tiết học. Các nhóm được giao cùng một nhiệm vụ hoặc những nhiệm vụ khác nhau.
	 F Quá trình hoạt động của một lần thảo luận có thể chia làm 3 phần để giáo viên dễ quản lý lớp và khống chế thời gian :
Trước khi làm việc (pre-discussing) :
Giáo viên nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ.
Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ.
Hướng dẫn cách làm việc theo nhóm.
Trong khi làm việc (while-discussing) :
Trao đổi ý kiến, thảo luận theo nhóm.
Phân công trong nhóm, từng cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi.
Cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm.
Sau khi làm việc (post-discussing) :
Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả.
Thảo luận chung.
Giáo viên tổng kết, đưa ra giải pháp giải quyết từng vấn đề (feedback).
b) Chia cặp và chia nhóm (pair work and group work) :
	F Làm việc theo cặp (pair work) thường được áp dụng khi dạy các bài nói (speaking), thực hành các đoạn hội thoại (dialogue). 
	Khi chia cặp để thực hành một đoạn hội thoại, thường người giáo viên chia 2 em trong một bàn thành một cặp, như vậy các em sẽ bạo dạn hơn với người bạn cùng bàn với mình, và khi thực hành đoạn hội thoại trước lớp, các em sẽ tự tin hơn. Gặp trường hợp những lớp học có số học sinh lẻ (ví dụ 35 em) thì đối với em học sinh không có cặp, giáo viên có thể cho em nhập vào một nhóm thành 3 người, hoặc giáo viên có thể dành một ít thời gian, trực tiếp luyện tập cho em.
	F Làm việc theo nhóm từ 3 người trở lên thường được áp dụng khi dạy các bài nghe, đọc, viết vì ở đây cần ý kiến riêng của từng cá nhân để xây dựng nên sự thống nhất chung cho cả bài học.
	Chia nhóm phức tạp hơn vì đòi hỏi một số em phải rời bàn của mình để gia nhập nhóm, điều này dẫn đến sự lộn xộn, ồn ào. Do đó, giáo viên chủ động chia nhóm thật rõ ràng để các em dễ dàng tìm ra. Đối với trường Nguyễn Bỉnh Khiêm khi chia lớp thành 4 nhóm cũng dễ dàng vì trong mỗi lớp đã có sự phân chia thành 4 tổ, và như vậy mỗi tổ sẽ thành một nhóm. Việc chia nhóm mà tôi hay thực hiện nhất là chia nhóm 4 học sinh. Như vậy chỉ cần 2 học sinh quay lên (hoặc xuống) thì có thể tạo thành nhóm rồi. Mà đặc điểm của nhóm 4 người là không lộn xộn và học sinh dễ làm việc hơn.
	Sau khi chia nhóm xong, giáo viên có thể đặt tên cho từng nhóm để dễ gọi và dễ phân biệt. Có thể đặt là nhóm 1, 2, 3... hoặc nhóm a, b, c...
	c) Ngôn ngữ điều khiển trong lớp học (classroom language) :
	Có thể sử dụng tiếng Việt để điều khiển lớp nhưng tốt hơn hết là sử dụng tiếng Anh để lớp học sinh động hơn.
Ngôn ngữ khi lập nhóm, đặt vị trí :
I want you in pairs, please.
Work in pairs, please.
Can you go into works, please.
In fours (in groups of four) please.
Turn round and face your neighbour.
Oh dear! Are you by yourself ?
Why don’t you join with them ?....
Ngôn ngữ khi học sinh đang làm việc :
Khi học sinh đang thảo luận, giáo viên càng ít nói càng tốt, lúc này đang là giai đoạn STT (students’ talking time). Chỉ sử dụng một số câu đơn giản mang tính chất nhắc nhở hoặc khuyến khích :
I want all of you to answer this question.
I want you to read the next sentence.
I’d like everybody to find out the key.
No ! That’s not clear. Let’s do it again.
It’s Hoa first. Now you. Quickly !
Come on!
Wake up!
Very good!.........
d) Cử chỉ :
	Sử dụng cử chỉ (gesture) trong điều khiển tổ chức một lớp học chia nhóm là cực kỳ quan trọng. Nó giúp người giáo viên giảm lời nói và tăng thêm khả năng truyền tải của mình.
	Một số câu lệnh sau có thể thay thế bằng cử chỉ hoặc kết hợp lời nói với cử chỉ :
Be quiet and listen !
All of you, together !
Not very good. Again !
Again but quickly !
No, stop !
Everyone, listen and repeat !
Come on. You !
You, please!
In halves, you first, then you !
III. PHẦN THỰC HÀNH
	Phần thực hành sau tôi xin trình bày 4 bài dạy kỹ năng được tôi áp dụng phương pháp chia nhóm để giảng dạy :
Œ KỸ NĂNG NGHE :
	Unit 11 - lesson 2 (A2) : listen and write the missing words (page 108)
 -Thời gian thực hiện bài nghe:25 phút.
 -Thể loại : Nghe điền vào chỗ trống.
 -Nội dung : Đoạn hội thoại giữa Hoa và người bác sĩ.
Pre-listening :
- Sau khi giới thiệu tình huống của đoạn hội thoại, giáo viên có thể dạy lại một số từ vựng hoặc đọc lại nhiều lần một số cấu trúc để các em quen với cách phát âm của từ :
 + Hỏi tuổi : How old are you ? 	 ð I’m thirteen years old.
 + Cân nặng : How heavy are you ?
 ð I’m fourty kilos.
 + Chiều cao : How tall are you? 	 ð I’m 1 meter 43 centimeters.
- Làm việc theo nhóm 4 người :
- Cho học sinh thời gian khoảng 2 phút, hướng dẫn các em đọc lướt qua bài hội thoại, sau đó đoán những từ có thể điền vào, hoặc đoán từ loại : danh từ, động từ, tính từ...
F Giai đoạn này rất quan trọng vì nó giúp học sinh hình thành ý tưởng và hình dung ra được đoạn hội thoại, ngoài ra còn có thể đoán được một số từ.
While-listening :
- Cho học sinh nghe băng 2 lần.
	- Các em tiếp tục làm việc theo nhóm để thảo luận về các phương án đưa ra. Lúc này lớp sẽ rất sôi động vì các em vừa tranh luận vừa đọc to lên các từ mà các em nghe được. Điều này rất có ích vì nó giúp những em không nghe được chú ý hơn đến các từ này.
	- Cho học sinh nghe băng lần thứ 3.
	- Lúc này học sinh sẽ check lại các đáp án lần cuối cùng trước khi trình bày trước lớp. Giáo viên có thể gọi đại diện của nhóm hoặc từng thành viên của nhóm đưa ra đáp án. 
Post-listening :
	- Giáo viên đưa ra đáp án chính xác và cho học sinh nghe băng lần cuối cùng.
	- Chia cặp, mỗi bàn một cặp luyện tập đoạn hội thoại, sau đó trình bày trước lớp.
 KỸ NĂNG NÓI :
	Cấu tạo của sách giáo khoa tiếng Anh 7 có rất nhiều bài tập liên quan đến kỹ năng nói. Do đó chia cặp để luyện tập là rất thường xuyên.
	Unit 12 - A1 : listen and practice with a partner (page 114).
+ Thời gian thực hiện : 30 phút.
+ Thể loại : Luyện nói các đoạn hội thoại ngắn.
+ Nội dung : Hoa và dì đi chợ mua hàng.
- Trước khi cho học sinh luyện nói, giáo viên giới thiệu nhanh một số cấu trúc và ý nghĩa : either, neither, too, so...
- Giới thiệu nội dung của từng đoạn hội thoại : Hoa và dì đi chợ đến từng cửa hàng khác nhau, họ thích gì và không thích gì.
- Cho học sinh nghe băng 1 lần hoặc giáo viên có thể đọc to trước lớp.
- Yêu cầu học sinh làm việc theo cặp, đóng vai Hoa và dì của Hoa.
Ø Lớp học lúc này sẽ rất sôi động vì học sinh đang luyện nói. Nhiệm vụ người giáo viên lúc này là đi xung quanh lớp, đóng vai trò một “người cố vấn” (adviser), hướng dẫn cho các em làm việc hoặc phát âm một số từ vựng khó.
- Sau một khoảng thời gian, giáo viên cho học sinh ngừng làm việc và bắt đầu thực hành. Lúc đầu giáo viên gọi 1-2 cặp khá giỏi làm mẫu, sau đó lần lượt gọi các cặp khác luyện tập cho đến khi học sinh có thể nói lưu loát.
Ž KỸ NĂNG ĐỌC :
	Bên cạnh kỹ năng nói, khi dạy đọc tôi cũng thường cho học sinh làm việc theo nhóm để giải quyết vấn đề nhanh hơn và học sinh hiểu bài hơn.
	Unit 5 - lesson 2 (B3) : Read - answer the questions .
+ Thời gian thực hiện : 35 phút.
+ Thể loại : Đọc đoạn văn trả lời câu hỏi.
+ Nội dung : Giờ ra chơi của các trường ở nước Mỹ.
Ø Pre-reading :
- Giáo viên giới thiệu nội dung bài khóa, về các nhân vật trong bài.
- Giáo viên ra yêu cầu bài đọc : đoán xem giờ ra chơi của các trường ở Mỹ khác gì các trường ở Việt nam.
Ø While-reading :
- Giáo viên yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm 4 người, đọc bài khóa tìm xem các học sinh ở Mỹ thường chơi gì trong giờ ra chơi
ð Ở giai đoạn này mặc dù là làm việc theo nhóm nhưng yêu cầu học sinh đọc thầm bài khóa, chỉ được trao đổi với nhau khi đưa ra câu trả lời.
- Giáo viên gọi học sinh ở mỗi nhóm đưa ra câu trả lời, sau đó ghi lên bảng.
- Giáo viên giải thích nghĩa một số từ mới (eliciting).
- Giáo viên cho học sinh làm việc theo nhóm, đọc lại bài khóa để trả lời các câu hỏi lựa chọn đã cho ở cuối bài.
ð Lúc này có thể cho học sinh trao đổi các câu trả lời với nhau. Điều này dễ xảy ra tranh luận và chính giáo viên là người giải quyết vấn đề cho các em.
- Giáo viên gọi từng nhóm đưa ra câu trả lời và ghi lên bảng.
- Sửa lỗi nếu cần thiết và đưa ra đáp án.
Ø Post-reading :
- Cho học sinh thiết lập 3 cột vào giấy nháp : một cột nêu các hoạt động hay chơi của học sinh Việt nam; một cột của học sinh ở Mỹ và một cột cho chính bản thân các em.
- Cũng cho học sinh làm việc theo nhóm và nộp lại giấy có ghi kết quả cho giáo viên.
 KỸ NĂNG VIẾT :
	Kỹ năng viết trong SGK 7 chủ yếu dùng để củng cố vốn ngữ liệu đã được học. Ngoài ra còn có những bài tập dạy viết có mục đích như : viết thư cá nhân, điền các mẫu khai, viết một đoạn văn ngắn có gợi ý...
	Unit 10 - A4 : write - complete the letter 
+ Thời gian thực hiện : 20 phút.
+ Thể loại : Điền vào chỗ trống một bức thư.
+ Nội dung : Thư của Hoa gởi cho mẹ.
Pre-writing :
- Giới thiệu nội dung của bài viết : đây là bức thư Hoa trả lời mẹ, thông báo về tình hình học tập và cuộc sống của mình.
- Hướng dẫn một số từ vựng.
- Yêu cầu học sinh đoán từ và tìm từ loại của mỗi ô trống.
While-writing :
- Chia nhóm 4 người, tìm những từ thích hợp để điền vào chỗ trống.
- Hướng dẫn học sinh dựa vào bức thư của mẹ Hoa để tìm ra câu trả lời.
- Mỗi nhóm cử một đại diện trình bày câu trả lời trước lớp. Các nhóm khác nhận xét, đánh giá.
- Giáo viên giải thích và đưa ra đáp án cuối cùng.
Post-writing :
- Yêu cầu học sinh chép bức thư vào vở.
- Dựa vào bức thư mẫu mỗi học sinh viết một bức thư tương tự (bài tập về nhà)
LỜI KẾT
	 Chương trình mới đã áp dụng được 3 năm, trong khoảng thời gian này giáo viên ở tất cả các bộ môn đều cố gắng nghiên cứu, tìm tòi học hỏi để tìm ra phương pháp phù hợp nhất trong công tác giảng dạy.Và viết sáng kiến kinh nghiệm chính là cách tốt nhất để giáo viên được trực tiếp đưa ra những phát hiện của mình đồng thời học hỏi từ đồng nghiệp. Phương pháp làm việc theo cặp hoặc tổ (nhóm) không phải là phát hiện hay là sáng kiến của riêng tôi mà là sự tìm tòi, học hỏi và tổng kết từ tất cả các tiết dạy, tiết dự giờ, thao giảng và những góp ý của đồng nghiệp. Sau một thời gian nghiên cứu, tôi xin được trình bày trong bài viết này với mong muốn được góp thêm một ít công sức của mình để chương trình mới, phương pháp mới được sử dụng dễ dàng và hiệu quả hơn. Một lần nữa xin chân thành cảm ơn và đón nhận những ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô.
 Krông Pa, ngày 26 tháng 02 năm 2005 
 	 Giáo viên thực hiện
 	 QUÁCH HỒNG HƯNG 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Hạnh Dung, Đào Ngọc Lộc, Vũ Thị Lợi, 2004 -“Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS môn tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc”.
Sở giáo dục đào tạo Gia Lai, 2003 - “Giáo dục Gia Lai”
Nguyễn Văn Lợi - “Tiếng Anh 7” - Bộ giáo dục và đào tạo. Nhà xuất bản giáo dục.

File đính kèm:

  • docSKKN_pair_work_and_group_work_grade_7.doc
Sáng Kiến Liên Quan