Sáng kiến kinh nghiệm hướng dẫn học viên sử dụng sách giáo khoa trong dạy học môn Lịch sử lớp 10

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Thực tế chúng ta thấy rằng đối với hệ Giáo dục thường xuyên chưa có Sách

giáo khoa riêng nên vẫn sử dụng chung Sách giáo khoa của THPT. Sách giáo khoa

nói chung và sách giáo khoa lịch sử nói riêng có vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan

trọng. Nó là tài liệu cơ bản, chủ yếu không thể thiếu được đối với học viên cũng

như giáo viên trong quá trình học tập và giảng dạy. Theo quan điểm của nhiều

nước kể cả các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, trong điều kiện hiện nay và sau

này, sách giáo khoa và các tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập khác luôn có vị trí

hàng đầu trong sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ. Dù cho khoa học kĩ thuật có bổ sung

nhiều phương tiện, thiết bị giảng dạy và học tập hơn nữa cũng không thể thay thế

được sách giáo khoa hoàn toàn. Có thể nói rằng sách giáo khoa có vai trò trung tâm

trong tổ hợp sách và tài liệu dùng ở nhà trường và giữ vị trí chủ đạo đối với các

phương tiện dạy học. Là tài liệu thể hiện nội dung chương trình của sách giáo

khoa, cung cấp cho học viên những cơ bản chính xác, hiện đại, có hệ thống bồi

dưỡng những phẩm chất đạo đức, trí tuệ, những tình cảm của những người lao

động mới và cả phương pháp lĩnh hội kiến thức cho học viên. Vậy,Giáo viên và

học viên cần khai thác, sử dụng sách giáo khoa như thế nào cho hợp lí, chính xác,

dễ hiểu và nắm được những nội dung chính của bài?

pdf19 trang | Chia sẻ: myhoa95 | Ngày: 27/10/2018 | Lượt xem: 214 | Lượt tải: 2Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm hướng dẫn học viên sử dụng sách giáo khoa trong dạy học môn Lịch sử lớp 10", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
àm việc độc lập với sách giáo khoa từ khâu chuẩn bị bài 
mới, thu nhận kiến thức trong quá trình nghe giảng đến củng cố, ôn tập kiến thức đã 
học và rèn luyện kiến thức đã học và rèn luyện các kĩ năng thực hành bộ môn. 
Học viên là đối tượng chủ yếu sử dụng sách giáo khoa. Tăng cường hoạt động 
độc lập của học viên với sách giáo khoa dưới sự hướng dẫn của giáo viên là một 
trong những vấn đề đổi mới phương pháp dạy học lịch sử hiện nay nhằm tích cực hóa 
hoạt động nhận thức, gây hứng thú học tập và rèn luyện các kĩ năng thực hành. Cần 
hướng dẫn học viên triệt để khai thác nội dung sách giáo khoa trong các trường hợp 
sau: 
2.3.1. Đối với giáo viên 
* Giáo viên hướng dẫn học viên sử dụng sách giáo khoa trên lớp 
Trong giờ lên lớp giáo viên cần hướng dẫn học viên biết cách sử dụng sách 
giáo khoa với nghe giảng, ghi chép và trao đổi, thảo luận ngắn gọn.Ở đây có sự tác 
động tương hỗ giữa các hoạt động: Giáo viên giảng bài - học viên làm việc với sách 
giáo khoa - thảo luận, trao đổi giữa giáo viên với học viên và giữa học viên với nhau 
trong giờ học. Do vậy, đòi hỏi cả thầy lẫn trò phải kết hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn 
các hoạt động đó. Lí luận và thực tiễn dạy học lịch sử ở trung tâm giáo dục thường 
xuyên đã chỉ ra các biện pháp sử dụng sách giáo khoa trong giờ lên lớp của học viên 
là: 
Học viên vừa nghe giảng, ghi chép vừa theo dõi sách giáo khoa. Trong thực tế 
thường xảy ra hiện tượng: Học viên chỉ nghe giảng và ghi chép hoặc là chỉ ghi chép 
theo sách giáo khoa mà không ghi theo bài giảng. Để khắc phụ tình trạng đó, giáo 
viên cần nhắc nhở học viên theo dõi bài giảng đối chiếu, so sánh với sách giáo khoa, 
đánh dấu những kiến thức quan trọng trong nội dung bài viết sách giáo khoa, đồng 
thời ghi chép những vấn đề mà giáo viên bổ sung, nâng cao. Ngoài nội dung bài viết, 
 8 
việc quan sát các kênh hình trong sách giáo khoa kết hợp với nghe giảng cũng có tác 
dụng giúp học viên khắc sâu được kiến thức, nâng cao hiệu quả học tập. 
Ví dụ: Khi nghe giảng mục I “Nước Pháp trước cách mạng” trong bài 31 
“Cách mạng tư sản Pháp cuối TK XVIII. Lớp 10, ban cơ bản”. Học viên vừa nghe 
giáo viên giảng bài vừa quan sát bức hình 56 để thấy rõ tình cảnh của người nông dân 
Pháp trước cách mạng. Nhằm thấy rõ được bộ mặt của chế độ phong kiến thối rữa ở 
nước Pháp. Qua đó, giáo viên sẽ hướng dẫn học viên hiểu sâu sắc hơn nguyên nhân 
dẫn đến cuộc cách mạng tư sản đồng thời cũng thấy rõ những mặt hạn chế của nó. 
Học viên nghiên cứu sách giáo khoa kết hợp với suy nghĩ độc lập để trả lời câu 
hỏi do giáo viên đặt ra (như yêu cầu phân tích, giải thích một sự kiện, hay hiện tượng 
và khái niệm lịch sử). đồng thời dựa vào nội dung sách giáo khoa để tiến hành các 
cuộc thảo luận trao đổi. Những tài liệu để học viên tiến hành tư duy là những kiến 
thức, kinh nghiệm, phương pháp mà các em đã có hoặc được cho trước, trên cơ sở đó 
các em khám phá ra kiến thức mới. Các sự kiện, hiện tượng lịch sử trình bày trong 
sách giáo khoa giúp cho học viên có tư liệu để suy nghĩ trả lời câu hỏi mà giáo viên 
đặt ra hoặc giải quyết vấn đề trong trao đổi, thảo luận. 
Một biện pháp thường hay sử dụng trong khi giảng dạy trên lớp là cho học viên 
tự đọc sách giáo khoa rồi các em tóm tắt, kể lại những nội dung cơ bản. Đó là những 
nội dung ít phức tạp, không cơ bản, dễ hiểu như diễn biến một cuộc khởi nghĩa, một 
trận đánh hay tiểu sử của một nhân vậtGiáo viên có thể yêu cầu học viên tự đọc 
hoặc một em đọc cho cả lớp cùng nghe, sau đó yêu cầu một hay hai em khác trình 
bày lại, tất nhiên sự trình bày của học viên sẽ không đầy đủ, trọn vẹn, do đó cần phải 
được giáo viên nhận xét bổ sung. 
Những biện pháp trên có tác dụng nâng cao tính tích cực, chủ động, hứng thú 
của học viên trong hoạt động nhận thức, tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa giáo 
viên và học viên và giữa sách giáo khoa với bài giảng của giáo viên và học viên. 
* Giáo viên hướng dẫn học viên sử dụng sách giáo khoa ở nhà 
 Thứ nhất 
 Đọc trước sách giáo khoa để hình dung bài học mới, muốn học viên “làm 
việc” với sách giáo khoa một cách có hiệu quả khi chuẩn bị bài học, giáo viên không 
 9 
nên nhắc nhở chung chung “các em về nhà đọc trước sách giáo khoa”, mà cần phải 
hướng dẫn học viên về nhà thực hiện tốt các yêu cầu: 
Đọc nội dung bài viết trong sách giáo khoa để chuẩn bị cho việc tiếp thu kiến 
thức mới ở lớp. Tất nhiên học viên sẽ không nhận thức được tất cả nội dung trong bài 
viết nhưng việc làm này có ý nghĩa giúp cho các em nắm được kiến thức đơn giản, dễ 
hiểu nhất, đồng thời lưu ý những sự kiện, hiện tượng, khái niệmphức tạp để bổ 
sung, trao đổi trong quá trình nghe giảng trên lớp. 
 Ví như, đọc trước mục “Cách mạng tư sản Anh ” của bài 29 (SGK lịch sử 10. 
Ban cơ bản), bước đầu học viên hình dung được nguyên nhân, diễn biến chính, tính 
chất và ý nghĩa của cách mạng. Nếu thiếu sự giải thích của giáo viên, học viên sẽ 
không nắm được những vấn đề khác như: Nguyên nhân sâu xa dẫn tới sự bùng nổ 
cách mạng, tại sao thái độ của tư sản và quý tộc mới đối với quần chúng nhân dân 
trước và sau cách mạng khác nhau, hình thức và đặc điểm của cách mạng tư sản Anh, 
các khái niệm “công trường thủ công”, “quý tộc mới”, “Quân chủ lập hiến”Học 
viên sẽ có ý thức tìm hiểu những kiến thức đó khi nghe giảng bài. Lí luận dạy học 
cũng đã chứng minh rằng hiệu quả họat động nhận thức trong giờ học sẽ tăng lên nếu 
trước đó học viên có tâm thế chuẩn bị tốt. 
 Đọc kĩ các câu hỏi, bài tập để suy nghĩ phương án giải quyết. 
 Quan sát các tranh ảnh, bản đồ, đồ thịtrong sách giáo khoa. 
Kênh hình không chỉ làm cho học viên sinh động, hấp dẫn mà còn là một 
nguồn cung cấp thông tin quan trọng. Do đó, nghiên cứu trước kênh hình kết hợp với 
đọc nội dung bài viết sẽ giúp học viên chủ động tiếp thu bài học mới. 
 Thứ hai: 
Sử dụng sách giáo khoa để làm tài liệu ôn tập, củng cố, hệ thống hóa kiến thức 
và làm bài tập ở nhà. Vở ghi ở trên lớp và sách giáo khoa là phương tiện, là nguồn 
kiến thức chủ yếu để học viên tự học ở nhà. Hiện nay, do nhiều lí do khác nhau, học 
viên chỉ học theo vở ghi mà không sử dụng sách giáo khoa khi học ở nhà? Để thực 
hiện được điều đó, giáo viên cần đặt ra cho học viên những yêu cầu cụ thể sau đây: 
 10 
- Đọc lại sách giáo khoa và vở ghi, có thể đọc sách giáo khoa trước rồi đọc vở sau 
hoặc ngược lại. Trên cơ sở đối chiếu sách giáo khoa với vở ghi cố gắng tái hiện lại 
bài giảng trên lớp của giáo viên và ghi nhớ những kiến thức cơ bản. 
- Sử dụng sách giáo khoa kế hợp với vở ghi để ôn tập, hệ thống hóa lại kiến thức đã 
học. Giáo viên không nên dặn dò chung chung: “ Các em về nhà ôn tập theo sách 
giáo khoa và vở ghi mà cần hướng dẫn các em các biện pháp như dựa vào nội dung 
sách giáo khoa và vở ghi rồi tóm tắt, hệ thống hóa kiến thức cơ bản bằng các sơ đồ, 
niên biểu, đồ họaVí như học xong bài 31 “Cách mạng tư sản Pháp (1789-
1794)”giáo viên yêu cầu học sinh lập niên biểu. 
Hoặc cũng có thể yêu cầu học viên vẽ sơ đồ về sự phân chia đẳng cấp trong xã 
hội phong kiến Pháp trước cách mạng. 
Những biện pháp trên vừa có tác dụng giúp học viên ôn tập, hệ thống hóa kiến 
thức cơ bản vừa phát triển tư duy cho học sinh, đồng thời phù hợp với trình độ, đảm 
bảo tính vừa sức của học viên GDTX. 
Các giai đoạn Tầng lớp nắm chính 
quyền 
Những sự kiện quan 
trọng 
Quý tộc 
Tăng lữ 
Hƣởng đặc quyền, đặc lợi Muốn duy trì 
CĐPK 
Muốn xóa bỏ 
CĐPK Chịu mọi thứ thuế và 
nghĩa vụ 
Đẳng cấp thứ ba 
 11 
Khai thác nội dung sách giáo khoa để trả lời các câu hỏi và làm bài tập về nhà. 
Các câu hỏi,bài tập do giáo viên nêu ra cho học viên hoặc có trong sách giáo khoa. 
Nhưng không nhất thiết bài học nào cũng phải có bài tập. Học viên cần khai thác nội 
dung sách giáo khoa, vở ghi và tham khảo các loại tài liệu khác kết hợp với suy nghĩ 
độc lập để giải quyết. 
2.3.2. Đối với học viên 
* Sử dụng sách giáo khoa trên lớp 
- Học viên cần bám sát bài giảng trên lớp của giáo viên thông qua theo dõi sách 
giáo khoa. Khi giáo viên phát vấn, học viên nhanh ý tóm tắt ý chính phần sách giáo 
khoa và đưa ra câu trả lời. 
- Học viên vừa nghe giảng, ghi chép, và theo dõi sách giáo khoa để tiếp thu 
kiến thức ngay trên lớp. 
- Trong sách giáo khoa từng bài đều có tranh ảnh, bản đồ, học viên cần quan 
sát kĩ và đưa ra nhận xét của mình hoặc trao đổi, thảo luận theo nhóm. Cuối cùng 
lắng nghe giáo viên phân tích thì học viên sẽ hiểu rõ bản chất vấn đề thông qua kênh 
hình đó. 
* Sử dụng sách giáo khoa ở nhà 
Học viên tập thói quen đọc bài mới trong sách giáo khoa một lần, theo dõi câu 
hỏi cuối bài để hình dung về nội dung chính của bài học. Trả lời các câu hỏi cuối mục 
bằng cách gạch bằng viết chì vào sách. Những khái niệm, hoặc cụm từ khó hiểu đánh 
dấu lại lên lớp nghe giáo viên giảng. Đối với kênh hình trong bài, học viên sẽ quan 
sát kĩ và liên hệ phần bài viết có liên quan trong sách giáo khoa để hiểu sâu hơn. 
Khi kết thúc bài học trên lớp, học viên về nhà học bài cũ bằng cách đọc lại một 
lần sách giáo khoa để hình dung lại bài giảng rồi mới đọc ghi chép ý chính trong vở. 
Như vậy, lí luận và thực tiễn dạy học đòi hỏi cả giáo viên và học viên khi sử 
dụng sách giáo khoa cần kết hợp chặt chẽ với các phương pháp khác của hệ thống các 
phương pháp nhận thức lịch sử như sử dụng các loại tài liệu tham khảo, đàm thoại, 
trao đổi, sử dụng câu hỏi.. 
 12 
IV. KẾT QUẢ 
 Xen kẽ dạy bài mới, giáo viên kiểm tra việc đọc sách trước ở nhà và 
chuẩn bị bài mới bằng cách đưa ra câu hỏi cho cả lớp suy nghĩ kết quả cho thấy rất 
rõ ràng: Những học viên đọc sách trước ở nhà sẽ nắm bắt vấn đề và trả lời nhanh 
hơn những học viên chưa chuẩn bị bài trước ở nhà. Khi giảng về Cách mạng tư sản 
Pháp cuối thế kỉ XVIII, giáo viên yêu cầu học viên quan sát hình 56 - tình cảnh 
nông dân Pháp trước cách mạng thì những học viên chưa nghiên cứu sách giáo 
khoa ở nhà chỉ thấy bề nổi của bức tranh: Đó là 1 người đàn ông cầm cuốc cõng 
hai người đàn ông trên lưng có mang kiếm dài, dưới đất có vài con chim, thỏ và 
chuột mà chưa liên hệ về kiến thức qua bức tranh. Giáo viên gọi học viên có chuẩn 
bị bài ở nhà thì học viên đó đã nhận ra được tình cảnh khổ cực của người nông dân 
khi phải chịu sự áp bức bóc lột của hai thế lực có tiền và có quyền, chiếc cuốc thể 
hiện nền nông nghiệp Pháp lạc hậu, còn chim, thỏ, chuột là những con vật phá hại 
mùa màng của người nông dân. Mặc dù, học viên chưa trả lời đầy đủ ý nghĩa sâu 
sa của bức tranh nhưng từ kết quả đó cũng cho thấy tác dụng của việc sử dụng sách 
giáo khoa ở nhà trước khi tới lớp sẽ làm học viên hiểu bài học nhanh hơn và nắm 
bắt vấn đề linh hoạt hơn, ghi nhớ, khắc sâu nội dung chính của bài học ngay trên 
lớp. Với phương pháp này, giáo viên khuyến khích học viên bằng cách cộng điểm 
vào điểm miệng hoặc điểm 15 phút để học viên thấy hứng thú, lôi cuốn học viên 
tham gia sôi nổi vào bài học. 
Sau bài học, Giáo viên cho học viên làm bài tập củng cố bằng hình thức 
trắc nghiệm: 
Câu 1: Nguyên nhân sâu sa dẫn đến cuộc cách mạng tư sản Pháp là? 
A. Nông nghiệp lạc hậu, đời sống nhân dân cực khổ 
B. Mâu thuẫn về quyền lợi kinh tế, địa vị chính trị giữa đẳng cấp 3 với 
đẳng cấp 1,2 
C. Xã hội chia thành 3 đẳng cấp, mâu thuãn gay gắt 
D. Chế độ phong kiến cản trở sự phát triển kinh tế công thương nghiệp 
Câu 2: Chế độ chính trị của Pháp trước cách mạng là gì? 
A. Phong kiến C. Quân chủ lập hiến 
 13 
B. Quân chủ chuyên chế D. Cộng hòa 
Câu 3: Nền nông nghiệp Pháp trước cách mạng như thế nào? 
A. Phát triển mạnh mẽ C. Đang phát triển 
B. Lạc hậu, kém phát triển D. Tất cả các ý kiến trên 
Câu 4: Xã hội Pháp trước cách mạng chia thành mấy đẳng cấp? 
A. 2 đẳng cấp ( Qúy tộc, tăng lữ) 
B. 3 đẳng cấp ( Qúy tộc, tăng lữ, đẳng cấp thứ 3) 
C. 4 đẳng cấp (Qúy tộc, tăng lữ, nông dân, tư sản) 
D. Cả A và B 
Câu 5: Đẳng cấp nào đông nhất trong xã hội Pháp trước cách mạng? 
A. Đẳng cấp thứ 1 C . Đẳng cấp thứ 2 
B. Đẳng cấp thứ 3 D. Cả ba đẳng cấp 
Câu 6: Những việc làm của phái lập hiến sau khi lên cầm quyền nhằm mục 
đích? 
A. Đem lại nhiều lợi ích cho đại tƣ sản tài chính. 
B. Cải thiện đời sống cho nhân dân lao động. 
C. Đem lại lợi ích cho giai cấp tư sản. 
D. Cải thiện cuộc sống cho giai cấp công nhân. 
Câu 7. Cách mạng tư sản Pháp bùng nổ vào thời gian nào? 
 A. 17/04/1789. B. 14/07/1789. 
 C. 04/07/1789. D. 07/04/1789. 
Câu 8: Vua Lu- i XVI triệu tập hội nghị ba đẳng cấp vào thời gian nào? 
A. 05 / 05 / 1789 B. 05 / 05/ 1791 
C. 05 / 05 / 1792 D. 06 / 05 / 1798 
Câu 9: Những nhà tư tưởng tiêu biểu cho trào lưu “Triết học ánh sáng” là? 
 A. Mông- te- xki- ơ. B. Vôn – te. 
 C. Ru – xô. D. Tất cả các câu trên. 
Câu 10 : So với các nước khác, nước Pháp trước cách mạng có điểm khác biệt 
là? 
A. Mâu thuẫn gay gắt giữa lực lượng sản xuất đang phát triển và quan hệ sản xuất 
đang thống trị. 
B. Sự tồn tại của chế độ phong kiến cản trở sự phát triển kinh tế TBCN. 
C. Nông dân thực hiện các nghĩa vụ phong kiến nặng nề. 
D. Cuộc đấu tranh chống PK trên lĩnh vực tƣ tƣởng. 
 14 
Kết quả: So sánh với lớp 10 T – lớp 10N được dạy theo cách truyền thống, Học 
viên không nghiên cứu sách giáo khoa, suy nghĩ độc lập, không được hướng dẫn 
ôn tập, hệ thống hóa kiến thức cơ bản bằng các sơ đồ, niên biểu, mà chỉ có một số 
tranh ảnh minh họa là các hình vẽ trong sách giáo khoa. 
Lớp 
Số học 
sinh dự 
kiểm tra 
Số học sinh đạt điểm 
4 5 6 7 8 9 10 
10N 30/35 
5 
(16,7%) 
2 
(6,7%) 
10 
(33,3%) 
8 
(26,7%) 
5 
(16,6%) 
0 0 
10T 20/24 
1 
(5%) 
2 
(10%) 
3 
(15%) 
5 
(25%) 
7 
(35%) 
2 
(10%) 
0 
Đánh giá : 
- Học viên tự nghiên cứu sách giáo khoa trước ở nhà, lên lớp học viên được giáo 
viên gợi ý bước vào bài học bằng những câu hỏi tư duy, học viên dễ dàng nắm bắt 
kiến thức cơ bản 
- Học viên tích cực đã tích cực trong bài học tìm tòi và khai thác triệt để kiến thức 
sách giáo khoa cùng với theo dõi bài giảng của giáo viên, học viên đã có sự đối 
chiếu vở ghi và bài giảng để làm bài trắc nghiệm. 
- Kết quả đánh giá cho thấy lớp 10T tiến bộ hơn lóp 10N. Chứng tỏ học viên biết 
cách khai thác sách giáo khoa, trả lời câu hỏi, quan sát hình ảnh trong sách, biết sơ 
đồ hóa kiến thức bài học giúp học viên nhớ lâu, hiểu bài ngay trên lớp. 
V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM 
Từ những kết quả trên, tôi rút ra được kinh nghiệm khi biết hướng dẫn học 
viên sử dụng triệt để sách giáo khoa, cách hướng dẫn hợp lý, phù hợp với từng đối 
tượng học viên cũng như nội dung bài dạy thì kết quả thu được rất khả quan: 
- Việc kết hợp các phương pháp dạy học cùng với sử dụng tài liệu sách giáo 
khoa. Nó không chỉ giúp tăng cường tính tích cực, tự lực ở học viên mà còn 
khiến học viên thêm yêu thích môn học, giáo dục học viên tinh thần yêu 
 15 
nước, lòng đam mê tìm hiểu kiến thức Lịch sử nói riêng và kiến thức xã hội 
nói chung. 
- Giúp giáo viên không ngừng tìm tòi, học hỏi, sáng tạo những phương pháp 
dạy học hay, thú vị, lôi cuốn học viên tham gia tích cực vào bài học để môn 
học Lịch sử bớt tính khô khan, nhàm chán. 
VI. KẾT LUẬN 
Qua bài nghiên cứu này, một lần nữa tôi khẳng định thêm rằng sách giáo khoa 
nói chung và sách giáo khoa lịch sử nói riêng là một tài liệu học tập và giảng dạy cơ 
bản, không thể thiếu được đối với học viên cũng như giáo viên ở các Trung tâm 
GDTX và các trường phổ thông. Dù khoa học - kĩ thuật có thể bổ sung nhiều 
phương tiện, thiết bị dạy học hơn nữa, nhưng không có một phương tiện nào có thể 
thay thế hoàn toàn vị trí của sách giáo khoa. Còn nhà trường, học viên thì sách giáo 
khoa mãi mãi vẫn là cái nôi trí tuệ đầu tiên. Bởi vậy, nghiên cứu về sách giáo khoa 
và phương pháp sử dụng nó là một trong những đề tài hết sức cần thiết và có ý 
nghĩa lâu dài của khoa học giáo dục. 
Những thành tựu biên soạn và tác dụng giáo dục của sách giáo khoa lịch sử mà 
chúng ta đã đạt được trong những thập kỉ qua là niềm tự hào đáng trân trọng. Song 
những câu hỏi: Vì sao hiện nay học sinh không yêu thích môn lịch sử? Vì sao chất 
lượng giáo dục bộ môn lại giảm sút một cách nghiêm trọng? là điều mà chúng ta 
cần phải suy nghĩ. 
Với bài nghiên cứu này, tôi đã đưa ra một số phương pháp sử dụng sách giáo 
khoa để các bạn cùng tham khảo. Mà trọng tâm chủ yếu của bài nghiên cứu này là 
tôi đưa ra công thức Đairi và việc áp dụng nó trong dạy học lịch sử. Dựa vào công 
thức này, giáo viên sẽ biết chọn lọc những kiến thức cơ bản, đặc trưng nhất để 
truyền thụ cho học viên, và giải thích thêm những kiến thức sâu hơn để học viên 
hiểu về bài học, đồng thời giáo viên cũng sẽ dành cho học viên những bài học cơ 
bản để học viên tự nghiên cứu vì trong một tiết học 45 phút, giáo viên không thể nói 
hết tất cả những gì sách giáo khoa viết để học viên có thể lĩnh hội một cách dễ dàng 
nhất. Như vậy, để đạt được mục tiêu dạy học, các giáo viên Lịch sử luôn luôn phải 
làm mới mình với các phương pháp dạy học để học viên hứng thú với môn học, 
 16 
hướng dẫn học viên sử dụng triệt để sách giáo khoa. Phát huy tính tích cực tự học 
của các em để kết quả môn học Lịch sử sẽ khả thi hơn. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong SGKLS lớp 11- Nguyễn Xuân Trƣờng (CB) - 
NXBHN - 2007. 
2. Sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 – Bộ giáo dục và đào tạo - NXBGD - 2000. 
3. Sách giáo khoa lịch sử lớp 10 (Ban cơ bản) – Bộ giáo dục và đào tạo - NXBGD - 2008. 
4. Sách giáo khoa lịch sử lớp 11 - Bộ giáo dục và đào tạo - NXB GD - 2001. 
5. Sách giáo khoa lịch sử lớp 11 - Bộ giáo dục và đào tạo - NXBGD (Ban cơ bản) - 2008. 
6. Sách giáo khoa lịch sử lớp 12 (phần thế giới) – Bộ giáo dục và đào tạo - NXBGD - 
2002. 
7. Sách giáo khoa lịch sử lớp 11 (phần Việt Nam)- Bộ giáo dục và đào tạo - NXBGD - 
2002. 
8. Sách giáo khoa lịch sử lớp 12 (Ban cơ bản) - Bộ giáo dục và đào tạo - NXBGD - 
2008. 
9. Giới thiệu giáo án lịch sử 10 – Nguyễn Xuân Trƣờng (CB) - NXBHN - 2006. 
10. Phương Pháp dạy học lịch sử T1,T2- Phan Ngọc Liên, Phan Văn Trị - NXBGD 
- 1992. 
11. Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào - N.G.Đairi - NXBGD Matxcova - 1993 
(tiếng việt) 
12. Sách giáo khoa Lịch sử của trường PTTHVN từ 1954 đến nay - Phạm Kim Anh - 
Luận án tiến sĩ giáo dục.HN-1999. 
13. Sử dụng tranh ảnh, bản đồ và sơ đồ để nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử Việt 
Nam từ TK X-XV - Nguyễn Thị Bích Chi - Luận văn tốt nghiệp khoa Lịch sử-
ĐHSP.TPHCM - 2007. 
 NGƢỜI THỰC HIỆN 
(Ký tên và ghi rõ họ tên) 
Hoàng Thị Hoa 
 17 
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI 
Đơn vị TT GDTX TP BH 
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc 
Biên Hòa, ngày 8 tháng 5 năm 2012 
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 
Năm học: 2011 – 2012 
––––––––––––––––– 
Tên sáng kiến kinh nghiệm: HƢỚNG DẪN HỌC VIÊN SỬ DỤNG SÁCH 
GIÁO KHOA TRONG DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ LỚP 10 
Họ và tên tác giả: Hoàng Thị Hoa. Đơn vị (Tổ):TT GDTX TP Biên Hòa 
Lĩnh vực: 
Quản lý giáo dục  Phương pháp dạy học bộ môn: Lịch sử  
Phương pháp giáo dục  Lĩnh vực khác: ....................................................  
1. Tính mới 
- Có giải pháp hoàn toàn mới  
- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có  
2. Hiệu quả 
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao  
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp 
dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao  
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao  
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp 
dụng tại đơn vị có hiệu quả  
3. Khả năng áp dụng 
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính 
sách: Tốt  Khá  Đạt  
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực 
hiện và dễ đi vào cuộc sống: Tốt  Khá  Đạt  
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt 
hiệu quả trong phạm vi rộng: Tốt  Khá  Đạt  
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN 
(Ký tên và ghi rõ họ tên) 
THỦ TRƢỞNG ĐƠN VỊ 
(Ký tên, ghi rõ họ tên và đóng dấu) 
BM04-NXĐGSKKN 
 18 

File đính kèm:

  • pdfhuong_dan_hoc_vien_su_dung_sach_giao_khoa_trong_day_hoc_mon_lich_su_lop_10_2555.pdf