Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4

I. PHẦN MỞ ĐẦU

I.1. Lý do chọn đề tài

Ngày nay, chúng ta đang sống trong thời đại văn minh mới. Do vậy người

lao động ở mọi lĩnh vực trong thời đại ngày nay phải không ngừng học hỏi, trau

dồi tri thức phải có tầm nhìn xa mang tính chiến lược và đủ chiều sâu để có thể

giải quyết nhanh chóng những công việc cụ thể. Vì thế ngành giáo dục phải đào

tạo được đội ngũ những người lao động tự chủ, năng động, sáng tạo, tiếp cận và

làm chủ được công nghệ tiên tiến, có năng lực giải quyết những vấn đề thực tiễn

đặt ra. Đảng và Nhà nước coi “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, là mục tiêu và là

động lực của sự phát triển.

Trước những yêu cầu thực tế đó, chất lượng dạy học trong mỗi trường tiểu

học là vấn đề quan tâm của toàn xã hội. Đặc biệt nó quyết định đến sự tồn tại, uy

tín của nhà trường. Chất lượng dạy học ấy phải được thể hiện bằng chất lượng

toàn diện của các môn học mà các em được học ở cấp Tiểu học. Từ thực tế đó đòi

hỏi mục tiêu giáo dục trong nhà trường cần phải thay đổi, đặc biệt là việc đổi mới

về phương pháp dạy học

pdf21 trang | Chia sẻ: myhoa95 | Ngày: 27/10/2018 | Lượt xem: 335 | Lượt tải: 6Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
eo mục tiêu của bài học và chuẩn kiến thức kỹ năng. Vấn đề đặt ra 
là dạy thế nào để cho học sinh khá giỏi có khả năng phát triển, học sinh trung bình 
đạt được yêu cầu tối thiểu một cách vững chắc và có thể vươn lên, học sinh yếu 
từng bước vươn lên đạt yêu cầu. 
Chính vì vậy tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng học sinh lớp 4A do tôi chủ 
nhịêm ngay từ đầu năm học. 
3. Thực hiện nghiêm túc các quy trình giải toán có văn. 
Chúng ta đều đã biết hoạt động giải toán có lời văn thường được tiến hành 
theo 4 bước là : 
Bước 1 : Tìm hiểu kỹ đầu bài 
Bước 2 : Lập kế hoạch giải toán. 
Bước 3 : Thực hiện kế hoạch giải 
Bước 4 : Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải . 
Qua nghiên cứu thực để nâng cao chất lượng giải toán có lời văn đạt hiệu quả 
ta cần phải tuân thủ quy trình giải toán có lời văn đặc biệt là ở bước 1 và bước 2 
Bước 1 có vị trí vô cùng quan trọng, có thể ví như "chiếc chìa khoá" để mở 
ra cách giải, bởi lẽ có làm tốt bước này thì các bước sau mới đi đúng hướng và đạt 
kết quả cao. Việc tìm hiểu nội dung bài toán thường thông qua việc đọc bài toán 
(Dù bài toán cho dưới dạng lời văn hoàn chỉnh hay bằng dạng sơ đồ, tóm tắt). Học 
sinh cần phải đọc kỹ, hiểu rõ đề toán cho biết gì, cho biết điều kiện gì, bài toán 
hỏi gì ?. Khi đọc bài toán phải hiểu thật kỹ một số từ, thuật ngữ quan trọng chỉ rõ 
tình huống toán học được diễn đạt theo ngôn ngữ thông thường, chẳng hạn “bán 
đi” , “thưởng cho”, “ bay đi”.Nếu trong bài toán nào có thuật ngữ học sinh chưa 
rõ thì giáo viên cần hướng dẫn để học sinh hiểu được nội dung và ý nghĩa của từ 
đó trong bài toán đang làm. Chằng hạn từ “tiết kiệm”, “năng suất”, “sản 
lượng”sau đó cho học sinh “ thuật lại” vắn tắt bài toán mà không cần đọc lại 
nguyên văn bài toán. Phải tóm tắt được bài toán. 
Vì vậy khi dạy bước 1 giải toán có lời văn người giáo viên phải thực hiện các 
công việc sau : 
Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4 
 10 
- Việc 1: Đọc kỹ đầu bài : trước hết muốn hiểu đầu bài học sinh cần hiểu rõ 
cách diễn đạt bằng lời văn của bài toán, nắm được ý nghĩa và nội dung của bài. 
Giáo viên có thể yêu cầu học sinh nêu tóm tắt lại nội dung của bài toán (không 
cần thuộc lòng). 
- Việc 2 : Xác định yếu tố cơ bản của bài toán 
+ Dữ kiện : Là cái đã cho, đã biết trong bài , thường được biểu diễn bằng 
danh số . 
+ Ẩn số : là cái chưa biết cần tìm (là các câu hỏi của bài toán) 
+ Điều kiện : Là quan hệ giữa dữ kiện và ẩn số . 
Ví dụ : Tuổi chị và tuổi em cộng lại được 36 tuổi. Em kém chị 8 tuổi. Hỏi chị 
bao nhiêu tuổi, em bao nhiêu tuổi ? (Sách giáo khoa toán 4 – trang 48) 
Dữ kiện : Tuổi chị và tuổi em cộng lại là : 36 
Ẩn số : Chị bao nhiêu tuổi, em bao nhiêu tuổi ? 
Điều kiện : Em kém chị 8 tuổi. 
- Việc 3 : Tóm tắt bài toán 
- Tóm tắt bài toán phải đạt các yêu cầu sau : 
+ Ngắn gọn, đầy đủ 
+ Thể hiện được mối quan hệ logic giữa dữ kiện , ẩn số và điều kiện . 
+ Gợi ý được cách giải 
Ví dụ : Cách tóm tắt bài toán trên 
Bước 2 : Lập kế hoạch giải toán 
Đây là bước phân tích các dữ kiện, điều kiện và câu hỏi( ẩn số)của bài toán 
nhằm xác lập mối quan hệ giữa chúng và tìm được các phép tính phù hợp. Đây là 
bước quan trọng quyết định hướng giải bài toán, nếu thực hiện không tốt thì học 
sinh sẽ bị “lạc lối”. 
Tuổi chị 
? tuổi 
? tuổi 
Tuổi em 
36 tuổi 
8 tuổi 
tuổi 
Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4 
 11 
Lập kế hoạch giải toán nhằm xác định trình tự giải quyết, thực hiện các phép 
tính số học. 
Ví dụ : Để lập kế hoạch giải bài toán trên tôi dùng hệ thống câu hỏi như sau: 
Cách 1: Tìm số bé ( tuổi em) trước. 
+ Yêu cầu học sinh quan sát kĩ sơ đồ bài toán và suy nghĩ cách giải bài toán 
- Tuổi chị và tuổi em cộng lại được bao nhiêu? ( 36 tuổi ) 
- 36 được gọi là gì? ( Tổng ) 
- Chị hơn em bao nhiêu tuổi? ( 8 tuổi ) 
- 8 được gọi là gì? ( Hiệu ) 
- Tính tuổi em giống cách tính số nào trong dạng toán? ( Số bé ) 
- Muốn biết em bao nhiêu tuổi ta phải tìm gì? ( Tìm hai lần tuổi của em ) 
- Đã biết hai lần tuổi em muốn tìm tuổi em ta làm thế nào? 
* Lưu ý: Ta có thể làm gộp bước tính hai lần tuổi em và tuổi em 
- Tính tuổi chị giống cách tính số nào trong dạng toán? ( Số lớn) 
- Đã biết tuổi em muốn tìm tuổi chị ta làm thế nào? 
Bước 3 : Thực hiện kế hoạch giải 
Dựa vào kế hoạch giải ở trên, cho học sinh thực hiện giải bài toán 
Ví dụ: Tuổi của em là: 
 ( 36 – 8 ) : 2 = 14 ( Tuổi ) 
 Tuổi của chị là: 
 14 + 8 = 22 (Tuổi ) 
 Đáp số: Em: 14 tuổi 
 Chị: 22 tuổi 
Bước 4 : Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải 
- Cho học sinh tự so sánh bài của mình với bài của bạn để nhận xét về cách 
giải và cách ghi lời giải của mình và của bạn. Tự nêu ra lỗi sai, sửa sai bài của 
mình và bài của bạn nếu có. Nêu cách giải, cách viết lời giải khác. Giáo viên theo 
dõi giúp đỡ những em còn lúng túng, nhận xét tuyên dương các em. 
4. Tạo niềm say mê, hứng thú cho học sinh khi học giải toán có lời văn. 
Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4 
 12 
Như chúng ta đã biết trực quan đối với học sinh tiểu học là rất cần thiết 
không những hỗ trợ việc nắm kiến thức mà nó còn tạo niềm say mê hứng thú cho 
học sinh. Vì vậy khi giải toán có lời văn tôi luôn cố gắng cho học sinh sử dụng đồ 
dùng học tập để lĩnh hội kiến thức một cách bản chất hơn. Ngoài ra còn tổ chức 
các hình thức học tập sinh động như: Trò chơi, sưu tầm những bài toán vui, những 
bài toán gần gũi với cuộc sống, đọc cho các em nghe, giải thích cho các em cách 
giải  Luôn khuyến khích các em tự sưu tầm đề toán hoặc tự đặt đề toán cho cả 
lớp giải hoặc tham khảo. Điều quan trọng nhất là khi học sinh chưa lĩnh hội được 
kiến thức để làm bài ta không nóng vội, gây áp lực cho các em mà phải hướng dẫn 
từ từ từng bước. Luôn tạo không khí học tập thoải mái cho các em như vậy các 
em mới tự tin, hứng thú trong học tập, dễ dàng nắm bắt kiến thức tốt hơn. 
5. Đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học giải 
toán nói riêng. 
Muốn cho các em học tập môn Toán đạt hiệu quả cao đặc biệt là toán có lời 
văn ở lớp 4, đòi hỏi người giáo viên phải tạo cho học sinh niềm say mê hứng thú 
học toán. Vì vậy cần phải lựa chọn phương pháp dạy học cho phù hợp để phát huy 
tính tích cực, chủ động sáng tạo, tự giác cho học sinh, tính hiệu quả của từng bài 
học, từng đơn vị kiến thức tránh nhàm chán. Tuy nhiên tuỳ vào đối tượng học 
sinh vào nội dung bài toán để lựa chọn hình thức tổ chức dạy học. Với những bài 
đơn giản ở mức độ nhận biết để học sinh làm bài cá nhân. Với những bài khó hơn 
ở mức thông hiểu hay vận dụng thì tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm để nắm 
được dự kiện bài toán, cùng đưa ra cách giải, cách trình bày bài giải. 
Trong một lớp học không thể tránh khỏi tình trạng các đối tượng học sinh 
khác nhau về trình độ nhận thức. Vì vậy khi dạy chúng ta phải dạy theo đối tượng 
học sinh, ngoài biện pháp giúp đỡ học sinh yếu thì cần có biện pháp để giúp học 
sinh khá giỏi được học nâng cao hơn. Trong các tiết dạy học trên lớp, sau khi học 
sinh khá giỏi hoàn thành các bài tập trong sách giáo khoa, giáo viên có thể tăng 
mức độ khó của các bài tập bằng cách: giữ nguyên dữ kiện nhưng tăng yêu cầu ( 
có thể giải bằng nhiều cách, hỏi thêm một số câu hỏi khó). Giáo viên cũng có thể 
đưa thêm các bài tập nâng cao khác có liên quan đến toán điển hình cụ thể: Dạng 
Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4 
 13 
toán Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó; dạng toán Tìm hai số khi biết 
tổng (hoặc hiệu) và tỉ số của hai số đó. Khi dạy học tuy thuộc trình độ học sinh, 
giáo viên có thể tăng hoặc giảm số lượng bài toán nâng cao cũng như mức độ 
nâng cao của từng dạng toán. Song để hướng dẫn được học sinh giải bài toán thì 
giái viên phải có bài giải mẫu, xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp. Bên cạnh đó 
giáo viên cần phải chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học và sử dụng có hiệu quả, tạo 
không khí lớp học thoải mái. Việc kết hợp linh hoạt các hoạt động và hình thức tổ 
chức dạy học rất quan trọng. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, gợi mở để giúp 
học sinh tìm ra cách giải của bài toán, giáo viên không làm thay, áp đặt học sinh 
Mục đích cuối cùng của đổi mới phương pháp nói chung và phương pháp dạy 
học toán nói riêng là làm thế nào để học sinh phải thực sự tích cực, chủ động, tự giác 
học tập để lĩnh hội kiến thức nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách của bản thân. 
6. Giúp học sinh nắm chắc dạng toán. 
Như nội dung tôi đã trình bày ở trên học sinh lớp 4 thường rất hay nhầm lẫn 
giữa các dạng toán 
a. Nhầm lẫn giữa 2 dạng toán: 
- Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó. 
- Tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó. 
Vì vậy khi dạy xong dạng toán tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó 
giáo viên cần phải có những tiết luyện tập tổng hợp cả 2 dạng toán này ( thường 
thực hiện vào buổi học thứ 2) để học sinh phân biệt rõ, tránh nhầm lẫn khi giải. 
Ví dụ 1 : Cả hai lớp 4A và 4B trồng được 250 cây. Lớp 4A trồng được ít 
hơn lớp 4B là 50 cây. Hỏi mỗi lớp trồng được bao nhiêu cây?. 
Ví dụ 2: Cả hai lớp 4A và 4B trồng được 250 cây. Số cây lớp 4A trồng 
bằng số cây lớp 4B. Hỏi mỗi lớp trồng được bao nhiêu cây? 
- Tôi viết cả 2 đề toán lên bảng và nêu một số câu hỏi: 
+ Các bài toán trên thuộc các dạng toán gì ? ( Ví dụ 1 : tìm 2 số khi biết tổng 
và hiệu của hai số đó,Ví dụ 2 : Tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó.) 
2 
3 
Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4 
 14 
+ Dạng toán ở ví dụ 1 và ví dụ 2 có điểm gì giống và khác nhau ? ( Giống 
nhau đều cho biết tổng, khác nhau dạng toán ở ví dụ 1 cho biết hiệu, dạng toán ở 
ví dụ 2 cho biết tỉ số) 
+ Nêu quy trình giải của 2 dạng toán ở ví dụ 1 và ví dụ 2. 
b. Nhầm lẫn giữa 2 dạng toán: 
- Tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó. 
- Tìm 2 số khi biết hiệu và tỉ số của 2 số đó. 
Khi dạy xong 2 dạng toán tôi cũng cho học sinh luyện tập tổng hợp cả 2 dạng 
toán này ( thường thực hiện vào buổi học thứ 2) để học sinh phân biệt rõ, tránh 
nhầm lẫn khi giải. 
Ví dụ 1: Lớp 4A và lớp 4B trồng được 250 cây. Số cây lớp 4A trồng bằng 
 số cây lớp 4B. Hỏi mỗi lớp trồng được bao nhiêu cây? 
Ví dụ 2 : Lớp 4A và 4B cùng trồng cây nhân dịp đầu xuân, số cây lớp 4B 
trồng được nhiều hơn số cây lớp 4A là 100 cây. Hỏi mỗi lớp trồng được bao 
nhiêu cây. Biết rằng số cây lớp 4A trồng được bằng số cây lớp 4B. 
- Tôi cũng viết cả 2 đề toán thuộc 2 dạng lên bảng và nêu một số câu hỏi: 
- Các bài toán trên thuộc các dạng toán gì ? (Ví dụ 1 : Tìm 2 số khi biết tổng 
và tỉ số của 2 số đó, ví dụ 2: Tìm 2 số khi biết hiệu và tỉ số của 2 số đó). 
+ Dạng toán ở ví dụ 1 và ví dụ 2 có điểm gì giống và khác nhau ? ( Giống 
nhau đều cho biết tỉ số, khác nhau dạng toán ở ví dụ 1 cho biết tổng của 2 số , 
dạng toán ở ví dụ 2 cho biết hiệu của 2 số). 
+ Nêu quy trình giải của 2 dạng toán ở ví dụ 1 và ví dụ 2. 
+ Quy trình giải dạng toán ở ví dụ 1 và dạng toán ở ví dụ 2 có gì giống và 
khác nhau. 
Sau đó trong các tiết ôn tập vào các buổi chiều tôi thường kết hợp các dạng 
toán khác nhau để học sinh nhớ lâu và không bị nhầm lẫn. 
7. Giáo viên cần khắc phục cho học sinh một số nhầm lẫn khi thực hiện 
giải toán có lời văn. 
Khi học giải toán có lời văn ở lớp 4 học sinh thường mắc một số sai lầm như: 
2 
3 
2 
3 
Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4 
 15 
a. Bài toán có chứa các từ " ít hơn" hay từ " nhiều hơn" học sinh thường 
nhầm lẫn, ngộ nhận bởi vì các từ này thường gợi ra phép tính cụ thể như :" ít hơn 
" hoặc " nhiều hơn " gợi ra phép tính cộng hoặc trừ tương ứng  .Do không 
đọc kỹ đầu bài nên một số học sinh đã nhầm lẫn, ngộ nhận khi gặp phải các từ đó 
dẫn đến việc chọn sai phép tính và kết quả sai 
Ví dụ: Cả hai lớp 4A và 4B trồng được 600 cây. Lớp 4A trồng được ít hơn 
lớp 4B là 50 cây. Hỏi mỗi lớp trồng được bao nhiêu cây? (SGK toán 4 – trang 
47). 
Do đầu bài có chứa từ " ít hơn " nó gợi cho học sinh làm phép tính trừ. Do nhầm 
lẫn, ngộ nhận bởi từ " ít hơn" đó nên một số học sinh xác định sai và giải sai bài toán. ( 
Học sinh bị nhầm khi tính số cây lớp 4B bằng cách lấy 600 trừ đi 50 ) 
- Biện pháp khắc phục khó khăn trên . 
+ Yêu cầu học sinh đọc kỹ đầu bài, diễn tả đầu bài theo ý kiến của mình . 
+ Cần hướng dẫn học sinh xử lý và phát hiện các dữ kiện và điều kiện của 
bài toán từ đó thấy được mối quan hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm . 
+ Hiểu đúng các từ " ít hơn" " nhiều hơn" đó. 
+ Lật đi lật lại vấn đề cho học sinh hiểu mối quan hệ giữa cái đã cho và cái 
cần tìm (lớp 4A ít hơn lớp nào? 600 là số cây của mấy lớp, số cây lớp 4B biết 
chưa?). Từ đó gợi được cách giải đúng cho học sinh . 
b. Một số bài toán đầu bài có chứa các yếu tố không tường minh thì học sinh 
thường không phát hiện ra yếu tố không tường minh đó. Do vậy việc xác định nội 
dung yêu cầu của đầu bài không chính xác, không đủ dẫn đến giải sai . 
Ví dụ : Cả hai hộp có 32 gam chè . Nếu chuyển hộp thứ nhất sang hộp thứ 
hai 4 gam chè thì số gam chè đựng trong mỗi hộp sẽ bằng nhau . Hỏi trong mỗi 
hộp lúc đầu có bao nhiêu gam chè . 
Ở bài này phần lớn học sinh không đọc kỹ đầu bài xác định sai điều kiện của 
đầu bài . Yếu tố không tường minh ở đây là khi chuyển 4 gam chè từ hộp 1 sang 
hộp 2 thì hai hộp có số gam chè bằng nhau. Phần đông học sinh xác định đúng 
dạng cơ bản của bài toán là loại toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu. Nhưng xác 
Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4 
 16 
định sai hiệu, đa số học sinh xác định 4 gam là hiệu. Nhưng ở bài này hiệu là 8 
gam chứ không phải là 4 gam . Do đó học sinh giải sai bài toán . 
- Biện pháp khắc phục khó khăn : 
+ Yêu cầu học sinh đọc kỹ đầu bài, nêu lại đầu bài theo ý hiểu của mình . 
+ Phân biệt được dữ kiện và điều kiện của đầu bài 
+ Hướng dẫn học sinh phát hiện ra yếu tố không tường minh trong đầu bài: 
giáo viên đưa ra câu hỏi : 
Chuyển hộp thứ nhất sang hộp thứ hai 4 gam chè thì số gam chè hộp thứ nhất 
hơn số gam chè ở hộp thứ 2 là bao nhiêu gam ? 
Sau đó giáo viên cho học sinh thảo luận và đưa ra kết quả. 
Giáo viên hướng dẫn HS phát hiện ra yếu tố không tường minh bằng cách vẽ 
sơ đồ đoạn thẳng và hướng dẫn học sinh hiểu sơ đồ đoạn thẳng để tìm ra số gam 
chè hộp thứ nhất hơn hộp thứ hai. So với kết quả học sinh vừa tìm ra ở trên xem 
nhóm nào đúng, nhóm nào sai. Từ đó học sinh sẽ hiểu bài toán hơn. 
 ? g 
 Hộp 1: 
 ? g 8 g 
 Hộp 2: 
 4 g 
c) Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp 
Giáo viên cần nắm vững chương trình, những kiến thức cơ bản của môn 
học. Tìm hiểu qua tài liệu, học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp để mở rộng thêm 
kiến thức, chuẩn bị bài giảng chu đáo trước khi đến lớp. Sử dụng phương pháp 
dạy học phù hợp với dạng bài, với đối tượng học sinh. Có đầy đủ đồ dùng dạy và 
học phục vụ cho môn học. Sử dụng đồ dùng dạy học thực sự có hiệu quả. 
d) Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp 
Các biện pháp trên có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau. Nếu học 
sinh nắm chắc kiến thức của từng dạng toán, nhận biết dạng Toán, quy trình giải 
từng dạng toán một cách chính xác, có trí tưởng tượng phong phú, suy luận logic. 
Kết hợp với sự định hướng, giúp đỡ của giáo viên, của bạn bè trong qua trình thảo 
32 g 
Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4 
 17 
luận nhóm các em sẻ giải đúng các bài toán có lời văn thuộc dạng Tìm hai số khi 
biết tổng và hiệu của hai số đó; Tìm hai số khi biết tổng (hiệu) và tỉ số của hai số 
đó. Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên thì chất lượng môn học sẽ được nâng 
lên. 
e) Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu 
Khi chưa áp dụng các biện pháp hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn. 
Qua kết quả khảo sát và thực tế giảng dạy tôi nhận thấy phần kỹ năng cơ bản về 
tính toán học sinh khá thành thạo song phần thực hiện kỹ năng giải toán có lời văn 
còn kém. Các em còn nhầm lẫn cách giải dạng toán này sang dạng toán khác. Vẽ 
sơ đồ chưa đúng với bài toán. Khi giải viết lời giải chưa phù hợp với phép tính 
 II.4. Kết qủa thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề 
nghiên cứu 
Qua thực tế giảng dạy khi áp dụng các biện pháp hướng dẫn học sinh giải toán 
có lời văn nói chung và giải dạng toán Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó; 
Tìm hai số khi biết tổng ( hiệu ) và tỉ số của hai số đó, ở lớp 4. trong 3 năm vừa qua, 
chất lượng giải toán có lời văn ở các lớp tôi chủ nhiệm có tiến bộ rõ rệt. Đặc biệt 
là học sinh tự tin, hứng thú hơn khi học giải toán có lời văn. 
Kết quả cụ thể như sau : 
Năm Tổng 
số HS 
Giỏi Khá Trung bình Yếu 
SL % SL % SL % SL % 
2011-2012 23 2 8.7 5 21.7 13 56.5 3 13.1 
2012- 2013 22 3 13.6 7 31.8 10 45.5 2 9.4 
2013-2014 23 5 21.7 9 39.1 9 39.1 0 0 
III . PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 
III.1. Kết luận: 
Trước những yêu cầu đổi mới của sự nghiệp giáo dục và đào tạo, việc nâng 
cao chất lượng dạy học là một trong những yêu cầu trọng tâm của chiến lược phát 
triển giáo dục. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, giáo viên phải không ngừng 
Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4 
 18 
học hỏi, sáng tạo trong giảng dạy, đem hết khả năng và niềm đam mê, lòng nhiệt 
tình cho công việc thì mới có được những kết quả như mong muốn. 
Bằng việc nghiên cứu lý luận và qua thực tiễn giảng dạy giải toán có lời văn 
trong toán 4. Giáo viên cần nắm vững nội dung chương trình; thực hiện nghiêm 
túc các quy trình giải toán có lời văn; tạo niềm say mê, hứng thú trong giờ học; 
nắm vững được định hướng đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương 
pháp dạy toán nói riêng; so sánh cách thực hiện các dạng toán với nhau để khắc 
phục một số nhầm lẫn khi thực hiện giải toán có lời văn. 
III.2. Kiến nghị 
Để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Toán nói chung và góp phần 
rèn luyện kỹ năng giải toán có lời văn nói riêng, tôi xin có một số đề xuất sau đây : 
a. Đối với nhà trường : 
- Tăng cường đầu tư nhiều loại sách tham khảo, sách nghiệp vụ để giáo viên 
có điều kiện nghiên cứu học tập chuyên môn, nghiệp vụ nhằm nâng cao tay nghề. 
- Duy trì và thực hiện tốt các buổi sinh hoạt chuyên môn có chất lượng và 
hiệu quả cao. 
b. Đối với tổ chuyên môn: Thường xuyên tổ chức các chuyên đề “Những 
sáng kiến hay về cách dạy môn Toán nói chung, hoặc các sáng kiến về cách dạy 
các dạng toán điển hình ”. 
c. Đối với giáo viên: Phải có kiến thức vững vàng, nắm vững mục tiêu bài học, 
nội dung cần truyền đạt của từng bài. Thường xuyên trau dồi kinh nghiệm, nhiệt tình, 
năng động, tâm huyết với nghề. 
- Khắc phục những khó khăn, tích cực sử dụng có hiệu quả đồ dùng dạy học, 
cương quyết không dạy chay, không nản lòng trước khó khăn, phải rèn luyện cho 
học sinh thường xuyên liên tục, động viên, khích lệ học sinh kịp thời, nắm bắt tâm 
lý của từng đối tượng trong lớp. 
- Thực hiện thường xuyên và nghiêm túc việc đánh giá kết quả học tập của 
học sinh để có kế hoạch dạy học cho phù hợp. 
Trên đây là một số kinh nghiệm mà bản thân tôi đã tiến hành khi dạy toán có 
lời văn ở lớp 4. Những ý kiến đó có thể còn thiếu sót, cách giải quyết vẫn còn hạn 
Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4 
 19 
chế, kính mong Ban giám khảo cùng các bạn đồng nghiệp đóng góp ý kiến để 
việc dạy học giải toán có lời văn trong Toán 4 đạt kết quả tốt hơn nữa trong thời 
gian tới. 
 Băng Adrênh, ngày 6 tháng 01 năm 2015 
 Người viết sáng kiến kinh nghiệm 
 Nguyễn Thị Thảo 
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN 
 CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN 
Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4 
 20 
 TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Sách giáo khoa Toán 4 
2. Sách giáo viên Toán 4 
3. Chuẩn kiến thức kĩ năng Toán lớp 4 
4. 200 câu hỏi đáp về dạy toán ở tiểu học; NXB Giáo dục 
 5. Dạy và học Toán ở Tiểu học theo chương trình mới; NXB Giáo dục 
Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4 
 21 

File đính kèm:

  • pdfsang_kien_kinh_nghiem_huong_dan_hoc_sinh_giai_toan_co_loi_van_o_lop_4_1882.pdf
Sáng Kiến Liên Quan