Sáng kiến kinh nghiệm Giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc qua tiết dạy lý thuyết môn giáo dục quốc phòng – an ninh lớp 10 trường THPT 19-5 Kim Bôi

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Giáo dục quốc phòng cho học sinh là một bộ phận quan trọng của công tác giáo dục quốc phòng toàn dân. Giáo Dục Quốc Phòng là môn học chính khóa nằm trong chương trình giảng dạy của các trường Trung Học Phổ Thông nhằm rèn luyện hình thành nhân cách, góp phần nâng cao ý thức quốc phòng, củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Nhận rõ vị trí, vai trò của nhiệm vụ trên, những năm qua, Ban Giám hiệu và Tổ Thể dục - GDQP luôn quan tâm chỉ đạo và tổ chức, triển khai thực hiện tốt công tác Giáo Dục Quốc Phòng cho học sinh.

 

doc15 trang | Chia sẻ: binhthang88 | Ngày: 20/11/2017 | Lượt xem: 358 | Lượt tải: 3Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc qua tiết dạy lý thuyết môn giáo dục quốc phòng – an ninh lớp 10 trường THPT 19-5 Kim Bôi", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC
Mục lục	Trang 1.
I. Đặt vấn đề	.2-3.
II. Nội dung
1. Thực trạng của vấn đề..	...4.
2. Giải pháp tổ chức thực hiện	
Đối với giáo viên...5-7.
Đối với học sinh8-9.
3. Hiệu quả đạt được9-11.
III. Kết luận..12.
GIÁO DỤC LÒNG YÊU NƯỚC , NIỀM TỰ HÀO DÂN TỘC QUA TIẾT DẠY LÝ THUYẾT MÔN GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG – AN NINH LỚP 10 TRƯỜNG THPT 19-5 KIM BÔI
---------&----------
ĐẶT VẤN ĐỀ:
Giáo dục quốc phòng cho học sinh là một bộ phận quan trọng của công tác giáo dục quốc phòng toàn dân. Giáo Dục Quốc Phòng là môn học chính khóa nằm trong chương trình giảng dạy của các trường Trung Học Phổ Thông nhằm rèn luyện hình thành nhân cách, góp phần nâng cao ý thức quốc phòng, củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Nhận rõ vị trí, vai trò của nhiệm vụ trên, những năm qua, Ban Giám hiệu và Tổ Thể dục - GDQP luôn quan tâm chỉ đạo và tổ chức, triển khai thực hiện tốt công tác Giáo Dục Quốc Phòng cho học sinh.
Trong những năm qua, Ban Giám Hiệu đã chỉ đạo, xây dựng kế hoạch hướng dẫn các giáo viên chọn nhiều hình thức tổ chức giảng dạy, học tập môn học này. Các Giáo viên bộ môn phải thay đổi giáo án cho phù hợp với chương trình của Bộ giáo dục đề ra, 35 tiết mỗi năm học. Từ năm 2013 đến nay, HS được nâng cao hiểu biết về truyền thống vẻ vang của dân tộc, Quân đội Nhân dân Việt Nam và một số nội dung cơ bản về quốc phòng, rèn luyện tác phong, nếp sống tập thể có kỷ luật... Nội dung thực hành luyện tập theo đúng nội dung, thời gian quy định. Các giáo viên đều tích cực tham gia huấn luyện, học sinh hăng say luyện tập nhằm tham gia hội thi giáo viên dạy giỏi môn quốc phòng – an ninh và hội thao QPAN học sinh THPT Tỉnh Hòa Bình năm 2017
 Trong những năm gần đây khi nền kinh tế Việt Nam phát triển, kĩ thuật thông tin hiện đại, thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong trường học là vấn đề đang được các cấp lãnh đạo quan tâm và ủng hộ, hiện nay, số lượng giáo viên áp dụng công nghệ thông tin vào trong phương pháp giảng dạy rất đa dạng, sinh động, gây hứng thú cho học sinh nói chung, và đối với phương pháp giáo dục quốc phòng – an ninh nói riêng, chương trình môn giáo dục quốc phòng an ninh rất đa dạng: 
Liên quan đến lịch sử có bài : Việt Nam đánh giặc giữ nước, lịch sử và truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam .
 Liên quan đến địa lý như bài : Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới quốc gia, thường thức phòng tránh một số loại bom đạn và thiên tai.
 Liên quan đến Giáo Dục Công Dân có bài : Tác hại của Ma túy và trách nhiệm của học sinh trong phòng chống ma túy.
 Liên quan đến Sinh học có bài : Cấp cứu ban đầu các tai nạn thông thường và Băng bó vết thương, kỹ thuật cấp cứu và chuyển thương.
 Liên quan đến hướng nghiệp như bài: hệ thống nhà trường quân đội, công an và chế độ tuyển sinh vào các trường quân sự, công an giúp các em học sinh định hướng được nghề nghiệp quân sự, công an Đồng thời Ngành Giáo dục và Đào tạo đang nổ lực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong hoạt động học tập, khắc phục thói quen học tập thụ động, lối truyền thụ kiến thức một chiều phổ biến ở các trường phổ thông hiện nay.
Do đó Bản thân Tôi cần hiểu mục tiêu bài dạy và trình độ phát triển tâm sinh lý học sinh để có các tổ chức hợp lí từng hoạt động học tập, trong khi đó luôn tạo ra những tình huống, nêu vấn đề, đưa ra những đề tài nghiên cứu liên quan đến bản thân học sinh, gia đình, nhà trường và xã hội nhằm mục đích giúp cho học sinh độc lập suy nghĩ, giải quyết và thể hiện bằng hành động của mình.
II.NỘI DUNG:
1. Thực trạng của vấn đề:
 Thuận lợi : 
 -Bản thân tôi được đào tạo giáo viên ghép môn Thể chất – GDQP tập trung ngắn hạn tại Bộ chỉ huy Quân Sự Tỉnh Hòa Bình. Đồng thời được Ban giám hiệu cũng như các thành viên của tổ luôn khuyến khích động viên việc giảng dạy có ứng dụng công nghệ thông tin, và hướng cho học sinh giải quyết vấn đề một cách độc lập.
 - Bên cạnh đó, tôi cũng rất may mắn được sự đồng tình và giúp đỡ, động viên hết sức nhiệt tình của Ban giám hiệu nhà trường và của bạn bè đồng nghiệp.
 -Giờ dạy môn giáo dục quốc phòng thực sự mang lại cho tôi sự cảm hứng và muốn tìm tòi, học hỏi nhiều hơn nữa.
 -Mỗi năm học Tôi luôn lấy bài học để làm câu hỏi đề tài, từ đó hướng dẫn học sinh tự nghiên cứu và đạt được những thành tích đáng kể, số lượng các em tham gia viết đề tài có phần phong phú hơn và sinh động hơn.
-Mục đích của chuyên đề là giúp cho các em học sinh tự tìm tòi, học hỏi, khả năng tư duy sáng tạo từ câu hỏi các em học sinh thu thập thông tin, bên cạnh đó các em có kiến thức về tin học, truy cập mạng tìm kiếm tư liệu là một phần quan trọng đem đến thành công của việc viết chuyên đề.
b. Khó khăn :
- Địa bàn nhà trường đóng trên xã là vùng đặc biệt khó khăn điều kiện phòng học và sân bãi chưa được hoàn thiện. 
- Sách giáo khoa và tài liệu môn học của học sinh còn thiếu.
- Việc tìm kiếm các tư liệu phục vụ cho việc viết chuyên đề cũng rất khó khăn vì tôi phải tìm tòi trên sách báo, tạp chí, mạng internet
Giải pháp tổ chức thực hiện:
a)Đối với giáo viên: 
 Giáo Dục Quốc Phòng-An Ninh trong ngành giáo dục đã có những chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý các cấp đến việc tổ chức thực hiện ở từng cơ sở, nhà trường, đơn vị. Các cơ quan quản lý giáo dục đã có sự chỉ đạo kiên quyết để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục quốc phòng - an ninh trong toàn ngành. Đội ngũ giáo viên giáo dục quốc phòng ở cấp trung học phổ thông đã bước đầu được hình thành và phát triển. Sở giáo dục và đào tạo Tỉnh Hòa Bình đã từng bước thực hiện biên chế giáo viên theo các văn bản quy định hiện hành; việc tổ chức học theo phân phối chương trình, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập cho từng học sinh đã được thực hiện ở nhiều trường trong toàn tỉnh. Giáo dục quốc phòng, an ninh cho học sinh các trường ngày càng có chất lượng, hiệu quả đã tạo ra môi trường học tập, rèn luyện cho học sinh.
 Những kết quả đạt được đã khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước về công tác giáo dục quốc phòng - an ninh; Định hướng đổi mới phương pháp dạy học là hướng tới hoạt động tích cực, chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động, đối với giáo viên tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, thiết bị dạy học, khả năng vận dụng và truyền đạt kiến thức một cách linh hoạt và đặc biệt là ứng dụng của công nghệ thông tin.
 Từ đó giao nhiệm vụ tìm tòi sáng tạo trong thực tiễn, để giảng dạy tốt, giáo viên giáo dục quốc phòng trước hết phải có kiến thức sâu rộng. Cho nên, việc có ý thức tự trau dồi, tích luỹ kiến thức qua việc tự học, tự nghiên cứu, nhằm làm giàu tri thức phục vụ chuyên môn như tìm tòi trong sách vở, báo chí, mạng lưới thông tin báo đài, internet. Ngoài ra, việc cập nhật thông tin qua các phương tiện thông tin đại chúng đóng vai trò hết sức quan trọng, giúp cho giáo viên có nhiều kiến thức mới, phong phú.
 Mặt khác, đối với giáo viên giáo dục quốc phòng – an ninh , công việc giảng dạy phải gắn liền với nghiên cứu khoa học. Đây là con đường ngắn nhất để không ngừng tích luỹ kiến thức, nâng cao trình độ, gọt sắc tư duy, góp phần tìm ra những hình thức, biện pháp thích hợp truyền đạt tri thức tới người học. 
 Việc chọn lựa các câu hỏi làm chuyên đề nghiên cứu phải thực tế và thiết thực giúp học sinh tìm hiểu kỹ và rõ ràng hơn, tránh học sinh hiểu sai lệch kiến thức  Đồng thời giáo viên phải nắm vững câu hỏi cũng như kiến thức sâu rộng về chuyên đề.
Từ chương trình học Tôi đã chọn 4 câu hỏi sau làm đề tài hướng dẫn học sinh tự nghiên cứu viết chuyên đề:
Câu 1. Anh ( Chị) hãy nêu những cuộc đấu tranh giành độc lập từ (TK I đến TK X )
Câu 2. Anh (Chị) 
Câu 3. Anh (Chị) hiểu thế nào là toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền biển đảo Việt Nam; Quần đảo Hoàng sa, Trường sa thuộc tỉnh nào của nước ta? Trách nhiệm của bản thân đối với việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền biển đảo.
Câu 4. Anh (Chị) hiểu thế nào là ma túy, tác hại của ma túy, trách nhiệm của học sinh trong phòng, chống ma túy.
Với 4 câu trên Tôi đã phân ra thành 4 chuyên đề: ( mỗi lớp chia làm 3 nhóm, mỗi nhóm đảm nhiệm một chuyên đề)
Ở khối lớp 11 các em sẽ thực hiện 3 chuyên đề sau:
Luật nghĩa vụ quân sự.
Toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền biển đảo Việt Nam.
 Tác hại của ma túy, trách nhiệm của học sinh trong phòng, chống ma túy. 
Đối với khối lớp 12 các em thực hiện 3 chuyên đề:
Những nội dung cơ bản xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh thời kỳ Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá?
 Toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền biển đảo Việt Nam
Tác hại của ma túy, trách nhiệm của học sinh trong phòng, chống ma túy.
Để thực hiện một chuyên đề trước hết giáo viên hướng dẫn học sinh phần trình bày, trình tự bố cục nội dung của chuyên đề: 
- Viết trên giấy A4, có trang bìa, trang mục lục, các thành viên của nhóm, lời mở đầu, nội dung, ý kiến của từng thành viên, kết luận chung.
- Nội dung của chuyên đề ( từ tên chuyên đề các em mở rộng ra ngoài xã hội, những dẫn chứng, những bài học kinh nghiệm, những thông tin mới được cập nhật trên mạng những trang web các em có thể cập nhật, lấy thông tin: lichsuvietnam.info,     www.qdnd.vn/ , www.quansuvn.net/, www.cand.com.vn, www.baodongkhoi.com.vn/, vietbao.vn, vietnamnet.vn/,        hoặc các em có thể tham khảo sách 
báo, tạp chí, hay những danh ngôn, tục ngữ, ca dao sinh động nhưng không đi quá xa nội dung của bài học; phần nội dung chuyên đề học sinh viết từ 15 đến 20 trang đánh máy vi tính).
b)Đối với học sinh:
Một lớp chia thành 3 nhóm cụ thể, mỗi nhóm sẽ chọn đề tài nghiên cứu và sẽ đăng ký danh sách thành viên nhóm với lớp trưởng.
Khi một nhóm đăng ký viết chuyên đề: Nhóm trưởng sẽ phân công các thành viên khác trong nhóm thu thập thông tin, các em sử dụng USB để lấy thông tin, hình ảnh từ trên mạng, nếu em nào không có điều kiện thu thập thông tin trên mạng thì lấy thông tin trên sách, báo, tạp chítrong nhóm chọn ra em nào giỏi vi tính nhất sẽ chịu trách nhiệm thiết kế chuyên đề, và mỗi em điều bắt buộc phải nêu ý kiến cá nhân về chuyên đề mà mình chọn, trong quá trình lấy thông tin các em sẽ chọn lọc thông tin cho phù hợp với chuyên đề và nhóm trưởng sẽ cùng các thành viên nhóm đưa ra ý kiến cuối cùng để làm bản phác thảo mẩu của chuyên đề và đưa cho giáo viên xem thử nội dung của chuyên đề, nếu giáo viên đồng ý, cuối cùng chuyên đề được đóng thành cuốn (kèm theo đĩa CD nếu có). 
Trình tự các bước được thể hiện theo sơ đồ sau:
	Giáo viên nhận chuyên đề và chấm điểm:
về cách trình bày chuyên đề
Nội dung chuyên đề.
Kết luận 
Ý kiến của từng thành viên nhóm.
Ban biên tập chuyên đề (nêu rõ nhiệm vụ của từng thành viên trong nhóm _ nếu có).
Giáo viên chấm điểm chuyên đề có thể lấy điểm 15 phút hoặc 1 tiết
Sau đó tất cả các chuyên đề được đưa về phòng thư viện trường, phòng đọc để tất cả các em có thể đến xem và tham khảo khi cần.
Hiệu quả đạt được:
 Giúp học sinh phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập. Làm cho “HỌC” là quá trình kiến tạo học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin, tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất. Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh, dạy học sinh cách tìm ra chân lí. Chú trọng hình thành các năng lực (tự học, sáng tạo, hợp tác).
 Từ những việc nắm vững công nghệ thông tin, kiến thức, giáo viên hướng dẫn học sinh tự tìm tòi học hỏi và nghiên cứu chuyên đề của môn học, học sinh sẽ thấm nhuần bài học hơn bởi nguồn thông tin mà học sinh tìm tòi từ các trang web, báo chí và các mạng lưới thông tin khác  góp phần tạo cho nội dung chuyên đề càng phong phú hơn, thực tế hơn và sinh động hơn từ những cuốn chuyên đề học sinh tự làm, tự tìm tòi sáng tạo và dưới sự hướng dẫn của giáo viên bộ môn nhưng không đi quá xa nội dung của bài học trong các chuyên đề mỗi em đều thể hiện, bày tỏ những ưu tư, cảm xúc, và những ý kiến chân thành được rút ra từ việc nhận thức sâu sắc trong quá trình viết chuyên đề. 
Ví dụ: 
F Đối với chuyên đề Toàn vẹn lãnh thổ chủ quyền Việt Nam, các em học sinh bày tỏ niềm tin, lòng yêu nước, hiểu sâu sắc hơn biển đảo của Việt Nam, từ đó hình thành nhân cách sống và bảo vệ môi trường xanh, sạch đẹp và càng cảm thấy yêu thương đất nước mình hơn 
F Đối với chuyên đề Ma túy, tất cả các em học sinh đều nói không với ma túy, các em càng hiểu sâu hơn về tác hại của Ma túy, nguyên nhân dẫn đến ma túy và cách đề phòng việc ma túy xâm hại học đường qua những hình ảnh sinh động những thước phim quý giá mô tả xoay quanh chuyên đề. 
F Đối với chuyên đề Luật nghĩa vụ quân sự, ngoài kiến thức có được từ bài học các em tìm tòi thêm những ý kiến của các bạn những thông tin hình ảnh từ tạp chí báo đài, và thông tin trên mạng từ đó những suy nghĩ về nghĩa vụ quân sự đối với các em sau khi làm chuyên đề, mỗi em đều bày tỏ những ý kiến của mình rất chân thành, thể hiện tinh thần xung phong, tự giác, tự nguyện khi đến tuổi nhập ngũ
F Đối với chuyên đề xây dựng nền quốc phòng toàn dân các em tìm hiểu sâu hơn về quốc phòng toàn dân, làm thế nào để góp phần xây dựng quốc phòng toàn dân vững mạnh, những hành động thiết thực cụ thể 
 Từ việc viết chuyên đề buộc học sinh phải tham khảo tài liệu, chủ động nắm bắt nội dung môn học, nhằm hiểu sâu hơn nữa kiến thức. Cải tiến phương pháp học tập của học sinh, phương pháp giảng dạy của thầy thì việc kiểm tra, đánh giá là một công cụ hữu hiệu. Việc kiểm tra, đánh giá đối với học sinh là sự tự kiểm tra và đánh giá của học sinh về quá trình học tập của mình. Có như vậy, chúng ta mới thực sự biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Ngoài mục đích đánh giá về kiến thức của học sinh, phải đánh giá được kỹ năng của học sinh, từ đó điều chỉnh việc học của học sinh, việc dạy của thầy. 
Ngoài ra, còn có thể sử dụng thường xuyên hơn nữa các hình thức: 
-Cập nhật thông tin thường xuyên trên các mạng lưới thông tin đại chúng, những thông tin sự kiện có liên quan đến bài học, tìm tòi học hỏi ở đồng nghiệp như dự giờ, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy, hướng dẫn học sinh viết chuyên đề
 -So với các năm trước năm nay các em có tiến bộ hơn, bài chuyên đề phong phú hơn, sâu rộng hơn, hình ảnh rõ đẹp, hình thức trình bày đẹp
KẾT LUẬN:
Kết quả các lớp được hướng dẫn viết chuyên đề có thái độ học tập tốt hơn, ý thức cao trong học tập, giờ học môn giáo dục quốc phòng – an ninh đối với những lớp viết chuyên đề rất sôi nổi, trao đổi những thông tin mà các em biết, đồng thời những quyển chuyên đề khi hoàn tất xong sẽ được thẩm định và đưa vào thư viện trường để làm những chuyên đề tham khảo cho các lớp sau học tập và nghiên cứu.
Trong khuôn khổ hạn hẹp của một bài viết, những vấn đề mà tôi đưa ra mới chỉ là những nghiên cứu bước đầu, với hy vọng sẽ nhận được những đóng góp thiết thực và quý báu của các nhà quản lý, của đội ngũ những người làm công tác giáo dục quốc phòng, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng dạy và học môn giáo dục quốc phòng ở các trường THPT, thực hiện tốt việc hướng dẫn học sinh ứng dụng công nghệ thông tin viết chuyên đề, tiểu luận ... áp dụng cho môn học giáo dục quốc phòng – an ninh.
Người viết 
 Nguyễn Quốc Hoàn
ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
ĐÁNH GIÁ CỦA SỞ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO TỈNH HÒA BÌNH
..
..
..
..
..
..

File đính kèm:

  • docskkn qp - an của Nguyễn Quốc Ho¢n.doc