Sáng kiến kinh nghiệm Giáo dục học sinh bảo vệ môi trường trong môn Giáo dục Công dân THCS

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

 Trong những năm qua, sự phát triển nhanh chóng về kinh tế xã hội đã làm đổi mới xã hội Việt Nam. Chỉ số tăng trưởng kinh tế không ngừng được nâng cao, đời sống văn hóa tinh thần không ngừng được cải thiện. Nhưng bên cạnh kết quả thu được cũng không ích tác hại riêng của nó, lúc này xã hội phát triển sinh hoạt của con người đa dạng phong phú dẫn đến chất thải ngày càng nhiều. Con người chưa ý thức được việc phải bảo vệ môi trường, vì vậy môi trường Việt Nam đã xuống cấp, nhiều nơi môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và đời sống của người dân. Nguyên nhân chủ yếu là do tác động trực tiếp của con người, do phải gánh chịu nhiều hậu quả thiên tai gây ra, con người bắt đầu ý thức được về những ảnh hưởng có hại của mình đối với môi trường sống. Chính vì thế, con người quan tâm hơn công tác bảo vệ môi trường, đặc biệt là bảo vệ môi trường trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương biện pháp tích cực. Nhiều văn bản mang tính pháp quy được thông qua, ban hành như: Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 được Quốc Hội Nước CHXHCN Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ VII thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014. Quyết định 1363/ QĐ - TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tương Chính phủ về việc phê duyệt đề án : “ Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”, Bộ GD& ĐT đã đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục nhằm tác động lên thái độ, hành vi của học sinh bằng chương trình giáo dục môi trường trong các môn học ở cấp THCS cũng như các cấp học khác.

 

doc23 trang | Chia sẻ: hoahong.90 | Ngày: 16/03/2018 | Lượt xem: 198 | Lượt tải: 1Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Giáo dục học sinh bảo vệ môi trường trong môn Giáo dục Công dân THCS", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ên là một loại hoạt động chính trị - xã hội.
- Ý nghĩa của việc tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên. 
Bài 9. Góp phần xây dựng nếp sống văn hoá ở cộng đồng dân cư 
- Bộ phận
Mục 2,4
- Bảo vệ môi trường là góp phần xây dựng nếp sống văn hoá ở cộng đồng dân cư.
- Thực hiện và vận động bạn bè, người thân thực hiện bảo vệ môi trường là trách nhiệm của học sinh. 
Bài 15. Phòng ngừa tai nạn vũ khí, cháy, nổ và các chất độc hại 
- Bộ phận
Mục 1,2
- Tai nạn do cháy, nổ và các chất độc hại gây ra không những làm thiệt hại về người, về của mà còn gây ô nhiễm môi trường.
- Quy định của pháp luật về quản lí, sử dụng vũ khí, các chất cháy, nổ và độc hại.
Bài 17. Nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ tài sản nhà nước, lợi ích công cộng 
- Bộ phận
Mục 1,2
- Tài nguyên thiên nhiên và môi trường là tài sản nhà nước và lợi ích công cộng. 
- Trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ tài sản nhà nước và lợi ích công cộng của học sinh cần được thể hiện bằng những hành vi, việc làm cụ thể.
Bài 18: Quyền khiếu nại tố cáo của công dân 
- Bộ phận
Mục 4
- Công dân có quyền và trách nhiệm tố cáo với cơ quan có trách nhiệm về những hành vi làm ô nhiễm môi trường, phá hại tài nguyên thiên nhiên.
Lớp 9
Bài 6. Hợp tác cùng phát triển 
- Bộ phận
Mục 2
- Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Ý nghĩa của sự hợp tác quốc tế trong việc bảo vệ môi trường 
Bài 18. Sống có đạo đức và tuân theo pháp luật
- Bộ phận
Mục 1,2
- Luôn có ý thức bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên là biểu hiện của người sống có đạo đức và tuân theo pháp luật.
- HS có trách nhiệm bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên đồng thời vận động bạn bè, người thân cùng thực hiện. 
3.2. Chọn phương pháp phù hợp với từng loại bài, từng lớp, từng đối tượng học sinh, sao cho hiệu quả nhất.
Giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Giáo dục công dân rất phong phú, đa dạng, mỗi phương pháp đều có mặt tích cực và hạn chế riêng. Vì vậy, giáo viên cần lựa chọn và sử dụng kết hợp các phương pháp cho phù hợp với nội dung, tính chất từng bài, trình độ nhận thức của học sinh, năng lực sở trường của giáo viên và điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của lớp, của trường mình.
Các tình huống, phương pháp được sử dụng phải gắn với nội dung bài học, giáo viên giúp tự đánh giá, xử lí các tình huống à kết luận để giáo dục học sinh các chuẩn mực đạo đức hoặc pháp luật liên quan đến bài học và ý thức bảo vệ môi trường . 
	Các phương pháp thường được sử dụng và mang lại hiệu quả cao như: thảo luận nhóm, sắm vai tình huống, giải quyết vấn đề, trực quan, trò chơi, nghiên cứu trường hợp điển hình...
3.3. Chuẩn bị phương tiện, các điều kiện cần thiết đặc biệt là nguồn tư liệu phục vụ bài học.
Đây là là một bước vô cùng quan trọng giúp cho tiết học thành công. Máy chiếu sẽ giúp cho qua trình đưa những tư liệu, hình ảnh một cách sinh động nhất đến với học sinh. Bên cạnh đó nguồn tư liệu hiện nay vô cùng phong phú qua báo chí, truyền hình, đặc biệt là Internet sẽ giúp cho việc thực hiện phương pháp trực quan dễ dàng và hiệu quả hơn.
Việc chuẩn bị tư liệu phải được tiến hành trong thời gian dài, được tích lũy và sắp xếp khoa học theo từng chủ đề: hình ảnh, Video clip, câu chuyện, gương điển hình... để khi cần có thể sử dụng ngay.
3. 4. Ví dụ minh họa:
- Khi dạy Bài 1: Tự chăm sóc, rèn luyện thân thể (bộ phận)- (GDCD Lớp 6) giáo viên có thể nêu tình huống: 
+ Để tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân, nghe lời mẹ dặn, sáng nào Mai cũng súc miệng bằng nước muối để bảo vệ răng. Nhưng cứ mỗi lần súc miệng là Mai lại nhổ ra sân. Em có nhận xét gì về hành vi của Mai?
 Gợi ý trả lời: Việc súc miệng nước muối vào buổi sáng để bảo vệ răng là việc làm thể hiện đức tính tự chăm sóc bảo vệ sức khỏe. Nhưng hành vi nhổ nước súc miệng ra sân là một hành vi thiếu văn hóa, làm ô nhiễm môi trường. Giáo viên giáo dục: Tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân là việc làm cần thiết, nhưng việc bảo vệ môi trường cũng không kém phần quan trọng, mọi người phải biết bảo vệ môi trường chung, giữ gìn vệ sinh chung.
- Khi dạy Bài 3. Tiết kiệm (GDCD Lớp 6) giáo viên có thể sơ lược về lịch sử “giờ trái đất”, hỏi: Mục đích của việc tắt đèn trong ngày thực hiện giờ trái đất trên toàn thế giới là gì?, từ đó giáo dục ý nghĩa của nó nhằm kêu gọi tiết kiệm năng lượng(điện), chống biến đổi khí hậu trên toàn cầu.
Hoặc giáo viên có thể cho học sinh sắm vai tình huống: “Nhà Hải nuôi nhiều gia cầm, cứ mỗi lần có nhiều thức ăn còn thừa, Hải thường cho vào bao nilon mang ra vứt ở mương gần nhà”. 
+ Em có nhận xét gì về hành vi của Hải?”
+ Nếu là Hải em sẽ làm gì?
 Hướng dẫn trả lời: Hành vi của Hải thể hiện sự lãng phí, Hải có thể dùng thức ăn thừa đó để hôm khác sử dụng hoặc để sử dụng làm thức ăn gia súc. Việc vứt thức ăn thừa ra mương vừa lãng phí, vừa làm ô nhiễm môi trường
 Giáo viên kết luận giáo dục: Mọi người cần phải biết tiết kiệm, không lãng phí và không làm ô nhiễm môi trường, đặc biệt không được vứt bao ni lông ra mương vì đây là công trình công cộng, hơn nữa bao ni lông có thể lẫn vào đất làm cản trở quá trình sinh trưởng của các loài thực vật bị nó bao quanh. Bao ni lông khó phân hủy có thể làm tắc nghẽn hệ thống cống rãnh làm cho muỗi phát sinh, lây truyền dịch bệnh v. v 
- Khi dạy Bài 7. Yêu thiên nhiên, sống hoà hợp với thiên nhiên (GDCD Lớp 6) giáo viên có thể sử dụng phương pháp động não bằng cách nêu câu hỏi: 
+ Kể những hành vi, việc làm thể hiện yêu thiên nhiên, sống hoà hợp với thiên nhiên?
Yêu cầu: Mỗi học sinh nêu một hành vi, việc làm, liệt kê các ý kiến và tìm ra điểm chung. Sau đó hướng dẫn học sinh phân tích ý nghĩa của mỗi hành vi và rút ra kết luận chung.
- Khi dạy Bài 9: Xây dựng gia đình văn hoá (GDCD Lớp 7) giáo viên có thể sử dụng phương pháp dự án: Chia lớp theo nhiều nhóm (theo địa bàn dân cư), hướng dẫn học sinh thảo luận tìm giải pháp bảo vệ môi trường nơi mình sinh sống. Mỗi nhóm trình bày ý tưởng của nhóm mình trước tập thể, cả lớp nhận xét (tính khả thi). Giáo viên kết luận giáo dục: Học sinh chúng ta cần phải góp phần xây dựng gia đình văn hóa. Ngoài việc chăm ngoan, học giỏi, biết kính trong người lớn, không đua đòi ăn chơi, không làm điều gì tổn hại đến danh dự gia đình, còn phải có ý thức bảo vệ môi trường ở gia đình, nhà trường, xung quanh chúng ta.
- Khi dạy Bài 14. Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên (GDCD Lớp 7) giáo viên có thể sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề để giải quyết tình huống đưa ra: “Hưởng ứng cuộc vận động của xã nhà không sử dụng túi nilon, nhà trường phát động 1 buổi làm vệ sinh công cộng, thu nhặt túi nilon, bảo vệ môi trường, nhưng bạn Tâm cho rằng đây không phải là việc của mình”
	+ Suy nghĩ của bạn Tâm đúng hay sai? Vì sao?
+ Nếu là Tâm, em sẽ làm gì trong tình huống đó?
Sau khi học sinh trả lời giáo viên kết hợp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường của mỗi học sinh.
- Khi dạy Bài 9. Góp phần xây dựng nếp sống văn hoá ở cộng đồng dân cư (GDCD Lớp 8) giáo viên có thể cho học sinh thảo luận tình huống: Trên đường đi học về, Tú thấy Cô Sáu mang gà chết định vứt xuống mương. Thấy vậy Bảo liền chạy đến can ngăn và giải thích cho cô ấy hiểu tác hại của việc làm này, nhưng Cô Sáu không nghe vẫn cố tình vứt tất cả xác gà chết xuống mương.
	+ Nêu nhận xét của em về việc làm của bạn Bảo và Cô Sáu?
	Sau khi học sinh nêu, phân tích vấn đề, giáo viên nhận xét, giáo dục: Trách nhiệm bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung của tất cả mọi người chứ không phải riêng ai . Trong mọi lúc mọi nơi, chúng ta cần phải tôn trọng lẽ phải, ủng hộ, tuân theo và bảo vệ những điều đúng đắn, biết điều chỉnh suy nghĩ, hành vi của mình theo hướng tích cực. 
 Trích đọc 
- Điều 80. Yêu cầu bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư
1. Bảo vệ môi trường đô thị thực hiện theo nguyên tắc phát triển bền vững gắn với việc duy trì các yếu tố tự nhiên, văn hóa, lịch sử và bảo đảm tỷ lệ không gian xanh theo quy hoạch.
2. Có kết cấu hạ tầng về bảo vệ môi trường đồng bộ, phù hợp với quy hoạch đô thị, khu dân cư tập trung đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
3. Có thiết bị, phương tiện, địa điểm để phân loại tại nguồn, thu gom, tập trung chất thải rắn sinh hoạt phù hợp với khối lượng, chủng loại chất thải và đủ khả năng tiếp nhận chất thải đã được phân loại tại nguồn từ các hộ gia đình trong khu dân cư.
4. Bảo đảm yêu cầu về cảnh quan đô thị, vệ sinh môi trường; lắp đặt và bố trí công trình vệ sinh nơi công cộng.
5. Chủ đầu tư dự án khu dân cư tập trung, chung cư phải thực hiện các yêu cầu về bảo vệ môi trường quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
6. Đối với khu dân cư phân tán phải có địa điểm, hệ thống thu gom, xử lý rác thải; có hệ thống cung cấp nước sạch và các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp và an toàn.
- Điều 81. Bảo vệ môi trường nơi công cộng
1. Cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường và giữ gìn vệ sinh nơi công cộng; phân loại, chuyển rác thải vào thùng chứa rác công cộng hoặc đúng nơi quy định tập trung rác thải; không để vật nuôi gây mất vệ sinh nơi công cộng.
2. Tổ chức, cá nhân quản lý công viên, khu vui chơi, giải trí, khu du lịch, chợ, nhà ga, bến xe, bến tàu, bến cảng, bến phà và khu vực công cộng khác có trách nhiệm sau:
a) Bố trí nhân lực thu gom chất thải, làm vệ sinh môi trường trong phạm vi quản lý;
b) Bố trí công trình vệ sinh công cộng; phương tiện, thiết bị thu gom chất thải đáp ứng nhu cầu giữ gìn vệ sinh môi trường;
c) Niêm yết quy định về giữ gìn vệ sinh nơi công cộng.
- Điều 82. Yêu cầu bảo vệ môi trường đối với hộ gia đình
1. Giảm thiểu, phân loại tại nguồn, thu gom và chuyển rác thải sinh hoạt đến đúng nơi quy định.
2. Giảm thiểu, xử lý và xả nước thải sinh hoạt đúng nơi quy định.
3. Không được phát tán khí thải, gây tiếng ồn, độ rung và tác động khác vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến cộng đồng dân cư xung quanh.
4. Nộp đủ và đúng thời hạn phí bảo vệ môi trường; chi trả cho dịch vụ thu gom, xử lý chất thải theo quy định của pháp luật;
5. Tham gia hoạt động bảo vệ môi trường công cộng và tại khu dân cư.
6. Có công trình vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm bảo đảm vệ sinh, an toàn
- Khi dạy Bài 15. Phòng ngừa tai nạn vũ khí, cháy, nổ và các chất độc hại (GDCD Lớp 8) giáo viên có thể cho học sinh sắm vai tình huống: “Hai học sinh đi chăn trâu nhặt được quả đạn pháo, 2 bạn tìm cách đập quả đạn để lấy thốc nổ và lấy vỏ đạn bán phế liệu”
	+ Hành vi của hai bạn có thể gây nguy hiểm gì?
	+ Nếu là em, em sẽ xử lí như thế nào?
 Sau khi học sinh trả lời, giáo viên kết hợp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, không nên làm việc có thể gay nguy hiểm cho tính mạng, dễ gây cháy, nổ làm ảnh hưởng môi trường. Giáo viên có thể nêu thêm một số ví dụ:
+ Đánh bắt cá bằng thuốc nổ gây ô nhiễm môi trường nước.
+ Các tai nạn cháy nổ khác gây ô nhiễm bầu không khí.
+ Các chất độc hại (thuốc trừ sâu cho rau quả, cây cối ) gây Ô nhiễm nguồn thực phẩm, ô nhiễm đất và không khí.( GV kết hợp tranh ảnh minh họa) 
 Hoặc giáo viên có thể sử dụng phương pháp thảo luận nhóm sau khi cung cấp thông tin ở phần đặt vấn đề:
 + Các em có suy nghĩ gì khi nghe các thông tin trên?
 	+ Tai nạn vũ khí cháy nổ và các chất độc hại đã gây hậu quả như thế nào?
+ Cần làm gì để hạn chế tai nạn vũ khí cháy nổ và các chất độc hại?
+ Những quy định, những điều luật nào có liên quan đến vấn đề này ở nước ta?
	Sau khi học sinh trả lời, giáo viên nhận xét bổ sung, đặc biệt là giới thiệu những hình ảnh do tai nạn, vũ khí cháy nổ và các chất độc hại gây nên, cho học sinh đọc những quy định về phòng ngừa tai nạn vũ khí, cháy nổ à giáo dục: Tai nạn do cháy, nổ và các chất độc hại gây ra không những làm thiệt hại về người, về của mà còn gây ô nhiễm môi trường.
- Khi dạy Bài 17. Nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ tài sản nhà nước, lợi ích công cộng (GDCD Lớp 8) giáo viên tổ chức cho học sinh đóng vai theo các tình huống sau:
Tình huống 1: Trên đường đi học, em phát hiện có mấy người đang đốt rừng làm rẫy.
Tình huống 2: Em cùng bạn đi nhặt củi. Trời lạnh, mấy đứa rủ nhau đốt lửa sưởi, chẳng may lửa cháy lan sang cả những cây xung quanh.
Yêu cầu học sinh thảo luận sau tình huống, rút ra trách nhiệm bản thân. Giáo viên kết hợp giáo dục: Tài nguyên thiên nhiên và môi trường là tài sản nhà nước và lợi ích công cộng, trách nhiệm của chúng ta là phải tôn trọng, bảo vệ tài sản nhà nước và lợi ích công cộng. Học sinh cần phải thể hiện bằng những hành vi, việc làm cụ thể.
- Khi dạy Bài 18: Quyền khiếu nại tố cáo của công dân (GDCD Lớp 8) giáo viên giới thiệu những nội dung cơ bản của Luật bảo vệ môi trường, cho học sinh thảo luận tình huống:
	+ Nếu biết một công ty xả trộm nước thải chưa qua xử lí vào môi trường em sẽ thực hiện quyền gì? Vì sao?
	Sau khi học sinh trình bày ý kiến giáo viên kết hợp kể một số câu chuyện vi phạm pháp luật trong lĩnh vựt này như Công ty Vidan Việt Nam, giới thiệu một số hình ảnh vi phạm à giáo dục: Công dân có quyền và trách nhiệm tố cáo với cơ quan có trách nhiệm về những hành vi làm ô nhiễm môi trường, phá hại tài nguyên thiên nhiên.
- Khi dạy Bài 6. Hợp tác cùng phát triển (GDCD Lớp 9) giáo viên có thể sử dụng phương pháp dự án : Tổ chức cho HS thực hiện các dự án tìm hiểu về sự hợp tác của Việt Nam với các nước khác trong việc bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên.
Đến nay, hợp tác đã được mở rộng thông qua nhiều đối tác song phương như: Đan Mạch, Nhật Bản, Thụy Sĩ, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Trung Quốc cũng như các tổ chức quốc tế đa phương (Chương trình Phát triển Liên hợp quốc, Chương trình Môi trường Liên hợp quốc, Quỹ Môi trường toàn cầu, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á, ASEAN). Nội dung hợp tác đã đi vào chiều sâu, bao gồm hầu hết các lĩnh vực quản lý môi trường như đánh giá tác động môi trường, kiểm soát ô nhiễm, xử lý ô nhiễm hóa chất tồn lưu, bảo tồn đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu Hình thức hợp tác được chuyển đổi từ tiếp nhận viện trợ, sang quan hệ đối tác cùng hợp tác giải quyết vấn đề
- Khi dạy Bài 18. Sống có đạo đức và tuân theo pháp luật (GDCD Lớp 9) giáo viên có thể cho học sinh thảo luận:
	+ Ý thức bảo vệ môi trường của học sinh lớp ta, trường ta tốt chưa?
	+ Mỗi em tự liên hệ bản thân về việc thực hiện bảo vệ môi trường tại trường mình, phương hường trong thời gian tới?
Sau khi học sinh trình bày, giáo viên bổ sung, chỉ rõ những hạn chế của học sinh, giáo dục học sinh luôn có ý thức bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên là biểu hiện của người sống có đạo đức và tuân theo pháp luật, có trách nhiệm bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên đồng thời vận động bạn bè, người thân cùng thực hiện đặc biệt là môi trường nơi mình sinh sống, bắt đầu từ trường học, lớp học của mình.
4. KẾT QUẢ CHUYỂN BIẾN ĐỐI TƯỢNG
Qua quá trình giảng dạy và nghiên cứu đề tài “ Giáo dục học sinh bảo vệ môi trường trong môn Giáo dục Công dân THCS” đã mang lại những hiệu quả đáng kể: 
- Học sinh nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề môi trường như một nguồn lực để sinh sống, lao động và phát triển của mỗi cá nhân, cộng đồng, quốc gia và quốc tế. Từ đó có thái độ , tình cảm yêu quý, tôn trọng môi trường – thiên nhiên; có tình yêu quê hương đất nước, tôn trọng di sản văn hoá; có thái độ thân thiện với môi trường và ý thức được hành động trước vấn đề môi trường nảy sinh; có ý thức quan tâm thường xuyên đến môi trường sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng; bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ rừng, bảo vệ đất đai, bảo vệ nguồn nước, không khí; biết giữ gìn vệ sinh trường lớp, không vứt rác bừa bãi, biết yêu quý, chăm sóc bảo vệ cây cối trong sân trường, không bẻ cành vặt lá mà còn góp phần bảo vệ môi trường nơi mình sinh sống...
- Có kĩ năng đánh giá hiện trạng môi trường, phương pháp hành động để nâng cao năng lực lựa chọn phong cách sống thích hợp với việc sử dụng hợp lí và khôn ngoan các nguồn tài nguyên thiên nhiên; kĩ năng tuyên truyền vận động mọi người cùng tham gia; kĩ năng phát hiện, ngăn chặn những hành vi làm ô nhiễm môi trường.
 Qua việc thực hiện nghiên cứu giáo dục bảo vệ môi trường tôi nhận thấy rằng ‎nhận thức ‎‎của học sinh về môi trường ngày càng được cải thiện, từ việc tổ chức các phong trào bảo vệ môi trường như : phong trào giữ vệ sinh phòng học, phong trào xanh - sạch - đẹp ở trường học, thường xuyên dọn dẹp vệ sinh xung quanh trường học, không vứt rác nơi công cộng ngoài ra các em còn tổ chức các buổi tọa đàm, thảo luận về vấn đề bảo vệ môi trường, làm tuyên truyền viên tích cực cho gia đình và mọi người xung quanh biết cần phải làm gì để bảo vệ môi trường sống , bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc sống của bản thân và gia đình.
KẾT LUẬN
TÓM LƯỢC GIẢI PHÁP
Qua quá trình giảng dạy và nghiên cứu đề tài “ Giáo dục học sinh bảo vệ môi trường trong môn Giáo dục Công dân THCS” đã mang lại những hiệu quả đáng kể: 
- Học sinh đã hiểu được bản chất của môi trường: tính phức tạp, quan hệ nhiều mặt, nhiều chiều, tính hữu hạn của tài nguyên thiên nhiên và môi trường; Những điều tốt đẹp mang lại từ những nỗ lực bảo vệ môi trường của bản thân và những người xung quanh.
- Học sinh nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề môi trường như một nguồn lực để sinh sống, lao động và phát triển của mỗi cá nhân, cộng đồng, quốc gia và quốc tế. Từ đó có thái độ , tình cảm yêu quý, tôn trọng môi trường – thiên nhiên; có tình yêu quê hương đất nước, tôn trọng di sản văn hoá; có thái độ thân thiện với môi trường và ý thức được hành động trước vấn đề môi trường nảy sinh; có ý thức quan tâm thường xuyên đến môi trường sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng; bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ rừng, bảo vệ đất đai, bảo vệ nguồn nước, không khí; biết giữ gìn vệ sinh trường lớp, không vứt rác bừa bãi, biết yêu quý, chăm sóc bảo vệ cây cối trong sân trường, không bẻ cành vặt lá mà còn góp phần bảo vệ môi trường nơi mình sinh sống...
- Có kĩ năng đánh giá hiện trạng môi trường, phương pháp hành động để nâng cao năng lực lựa chọn phong cách sống thích hợp với việc sử dụng hợp lí và khôn ngoan các nguồn tài nguyên thiên nhiên; kĩ năng tuyên truyền vận động mọi người cùng tham gia; kĩ năng phát hiện, ngăn chặn những hành vi làm ô nhiễm môi trường.
- Nhận thức của các em về môn Giáo dục Công dân cũng có nhiều thay đổi, không phải là môn khô khan, khó học mà còn là môn học có nhiều ý nghĩa giúp các em có những hiểu biết nhiều hơn về môi trường từ đó càng em còn hăng hái xây dựng bài, nhất là những bài bảo vệ môi trường, các em rất hăng hái thảo luận, đưa ra ý kiến, các nhóm tích cực đưa ra ý kiến về việc bảo vệ môi trường, làm cho các buổi học thường đạt hiệu quả cao.
- Giáo dục bảo vệ môi trường ở nhà trường phổ thông nói chung và ở trường THCS nói riêng đã trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức tương đối đầy đủ về môi trường, kĩ năng bảo vệ môi trường thông qua việc tích hợp trong từng nội dung bài giảng. Bản thân tuy đã cố gắng nhưng chắc hẳn vẫn còn nhiều thiếu sót, rất mong các đồng nghiệp chia sẻ, quan tâm. Để đưa nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào giảng dạy ở bộ môn Giáo dục Công dân ngày càng tốt hơn.
PHẠM VI ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG
 Đề tài “ Giáo dục học sinh bảo vệ môi trường trong môn Giáo dục Công dân THCS” được áp dụng vào môn Giáo dục Công dân cho đối tượng là học sinh cấp THCS.
KIẾN NGHỊ
 Để đề tài này đạt kết quả tốt hơn hết tôi có một vài kiến nghị như sau 
- Tạo không gian và môi trường sư phạm Xanh- Sạch- Đẹp: trồng thêm cây xanh, đầu tư nguồn nước sạch...ở các trưởng THCS 
- Quan tâm đầu tư các phương tiện, trang thiết bị dạy học (máy tính, đèn chiếu), tư liệu tuyên truyền bảo vệ môi trường.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong soạn giảng.
 Trên đây là một số kinh nghiệm giảng dạy những bài có tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường của bản thân đã tích lũy được, trong quá trình thực hiện không sao tránh khỏi sai sót, rất mong sự đóng góp ý kiến của Hội đồng để đề tài được hoàn thiện tốt hơn. 
 Hựu Thạnh, Ngày 28 tháng 02 năm 2017
	Người viết
 Phan Nguyễn Tuyết Nhung
IV.	PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
SGK GIÁO DỤC CÔNG DÂN 6, 7,8,9 NXB Giáo dục
SGV GIÁO DỤC CÔNG DÂN 6,7,8,9 NXB Giáo dục
 Luật bảo vệ môi trường 2015 ( điều 80; 81; 82) 

File đính kèm:

  • docsang kien kinh nghiem_12169860.doc
Sáng Kiến Liên Quan