Sáng kiến kinh nghiệm Giảng dạy về phương trình và bất phương trình bậc 2 một ẩn như thế nào để góp phần nâng cao kết quả học tập môn toán của học sinh lớp 10

1. Kỹ năng tự học: Là hoạt động tìm tòi khám phá để chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. hoạt động tự học bao gồm rất niều hành động liên tục, kế tiếp nhau như: quam sát, ghi chép, đọc tài liệu, hệ thống hóa, giải bài tập, làm thí nghiệm thực hành. Để có thể tự học học sinh pahir nắm được những tri thức về hành động tự học ( xác định mục đích, các phương tiện, điều kiện và cách thức tiến hành để đạt được mục đích. Học sinh phảI biết vận dụng những tri thức để tiến hành các hành động nhằm thu được kết quả phù hợp với mục đích tương ứng, tức là phảI có kỹ năng tự học tương ứng.

 Vậy kỹ năng tự học có thể hiểu là khả năng thực hiện có hiệu quả 1 hay 1 nhóm hành động bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệmđể có hành động với nhứng điều kiện cho phép. Kỹ năng tự học là tổ hợp các cách thức hành động, được người tự học nắm vững, nó biểu hiện ở mặt kỹ thuật của hành động tự học và mặt năng lực tự học của mỗi các nhân

 Kỹ năng tự học liên hệ chặt chẽ với kết quả học tập, nó là yếu tố mang tính mục đích, luôn hướng tới mục đích của hành động tự học và có ý nghĩa quyết định tới kết quả của việc tự học

2. Hệ thống kỹ năng tự học:

 Hoạt động tự học được thực hiện bởi một chuỗi các hành động tự học. Để tự học có kết quả, học sinh phải có những kỹ năng tự học tương ứng với các hành động tự học như: Kỹ năng xây dựng kế hoạch tự học, kỹ năng ghi chép, kỹ năng đọc sách, kỹ năng nhận dạng và thể hiện tri thức, kỹ năng nghiên cứu và hệ thống hóa bài học, nhận dạng và thể hiện,

 Các kỹ năng tự học có quan hệ hữu cơ với nhau, bổ sung cho nhau để hoạt động tự học đạt kết quả tốt, học sinh trong quá trình tự học phải biết vận dụng và kết hợp các kỹ năng.

 Theo quan điểm điều khiển học, quá trình tự học là quá trình tự điều khiển, tự tác động của chủ thể nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập đạt kết quả tối ưu. Quá trình tự điều khiển đó bắt đầu từ việc lập kế hoạch tự học, tổ chức thực hiện kế hoạch và cuối cùng tự kiểm tra và đánh giá quá trình đó.

 

doc16 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 06/08/2015 | Lượt xem: 1633 | Lượt tải: 35Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Giảng dạy về phương trình và bất phương trình bậc 2 một ẩn như thế nào để góp phần nâng cao kết quả học tập môn toán của học sinh lớp 10", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ác hành động nhằm thu được kết quả phù hợp với mục đích tương ứng, tức là phảI có kỹ năng tự học tương ứng.
	Vậy kỹ năng tự học có thể hiểu là khả năng thực hiện có hiệu quả 1 hay 1 nhóm hành động bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệmđể có hành động với nhứng điều kiện cho phép. Kỹ năng tự học là tổ hợp các cách thức hành động, được người tự học nắm vững, nó biểu hiện ở mặt kỹ thuật của hành động tự học và mặt năng lực tự học của mỗi các nhân
	Kỹ năng tự học liên hệ chặt chẽ với kết quả học tập, nó là yếu tố mang tính mục đích, luôn hướng tới mục đích của hành động tự học và có ý nghĩa quyết định tới kết quả của việc tự học
2. Hệ thống kỹ năng tự học: 
	Hoạt động tự học được thực hiện bởi một chuỗi các hành động tự học. Để tự học có kết quả, học sinh phải có những kỹ năng tự học tương ứng với các hành động tự học như: Kỹ năng xây dựng kế hoạch tự học, kỹ năng ghi chép, kỹ năng đọc sách, kỹ năng nhận dạng và thể hiện tri thức, kỹ năng nghiên cứu và hệ thống hóa bài học, nhận dạng và thể hiện,
	Các kỹ năng tự học có quan hệ hữu cơ với nhau, bổ sung cho nhau để hoạt động tự học đạt kết quả tốt, học sinh trong quá trình tự học phải biết vận dụng và kết hợp các kỹ năng.
	Theo quan điểm điều khiển học, quá trình tự học là quá trình tự điều khiển, tự tác động của chủ thể nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập đạt kết quả tối ưu. Quá trình tự điều khiển đó bắt đầu từ việc lập kế hoạch tự học, tổ chức thực hiện kế hoạch và cuối cùng tự kiểm tra và đánh giá quá trình đó. 
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ TỰ HỌC 
Thực trạng hiện nay tại các trường THPT, việc đổi mới phương pháp dạy và học chưa được tiến hành đồng đều, học sinh học tập còn lệ thuộc vào Thầy giáo trong quá trình học tập, còn nhiều giaó viên vẫn dạy học theo kiểu truyền đạt một chiều, trò tiếp nhận và ghi nhớ, giáo viên ít chú ý hướng dẫn học sinh tự học, dẫn đến hạn chế kết quả học tập, không tận dụng được mọi cơ hội để phát huy tiềm năng tư duy sáng tạo của mỗi con người.
III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH THPT
Như đã trình bày ở phần lý do chọn đề tài, hoạt động tự học của học sinh đã trở thành một vấn đề quan trọng và rất cần thiết góp phần nâng cao chất lượng. Để hoạt động tự học của học sinh có hiệu quả thì học sinh cần phải có hệ thống các kỹ năng tự học tốt. Vì vậy tôi xin trình bày một số biện pháp giúp học sinh rèn luyện kỹ năng tự học và minh họa qua chủ đề “ Phương trình và bất phương trình bậc hai một ẩn ” ( Đại số 10)
	Biện pháp 1: Rèn luyện cho học sinh kỹ năng xây dựng kế hoạch tự học
	Biện pháp 2: Rèn luyện cho học sinh kỹ năng nghe - thông hiểu và ghi chép bài giảng trong hoạt động tự học
	Biện pháp 3: Rèn luyện cho học sinh kỹ năng nhận dạng và thể hiện định nghĩa, khái niệm, định lý trong hoạt động tự học
	Biện pháp 4: Rèn luyện cho học sinh kỹ năng đọc sách và tham khảo tài liệu trong hoạt động tự học
	Biện pháp 5: Rèn luyện cho học sinh kỹ năng phân loại các dạng bài tập trong hoạt động tự học
	Để việc rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh đạt kết quả tốt, các biện pháp cần được tiến hành như sau:
Biện pháp thứ nhất: Rèn luyện cho học sinh kỹ năng xây dựng kế hoạch tự học 
Kế hoạch học tập là một trong yếu tố quan trọng để thành công trong học tập. Để có kế hoạch học tập tốt, người học phải dựa vào khối lượng tri thức cần lĩnh hội, quỹ thời gian và các yêu cầu cụ thể cho tong thời gian. Xây dựng kế hoạch tự học là kỹ năng bố trí sắp xếp các công việc, phối hợp thời gian cho từng công việc, xác định phương pháp và các hình thức tổ chức từng công việc và ước chừng mức độ hoàn thành chúng phù hợp với khả năng hứng thú và đặc điểm riêng của từng các nhân, nó đảm bảo cho việc tự học được xây dựng mang tính khoa học và tính khả thi.
Để xây dựng kế hoạch tự học từng chương, từng bài trở thành kỹ năng và đạt kết quả tốt phải đảm bảo các yêu cầu sau: 
 - Xác định yêu cầu, nhiệm vụ, kiến thức trọng tâm của từng chương, từng bài 
 Dự kiến kế hoạch thời gian để đảm bảo hoàn thành chương trình một cách đầy đủ và có chất lượng
 Liệt kê tài liệu, sách tham khảo, liên quan đến nội dung chương trình mà ta đang nghiên cứu
Ví dụ: Khi dạy nội dung chủ đề “ Phương trình và bất phương trình bậc hai một ẩn ” giáo viên có thể hướng dẫn học sinh xây dựng kế hoạch tự học theo các yêu cầu nêu trên. Để kế hoạch này đạt hiệu quả cao thì giáo viên phải trang bị cho học sinh các kiến thức sau:
* Mục đích yêu cầu cụ thể của từng bài.
	- Phương trình bậc hai: Học sinh cần hiểu và nắm vững cách giải và biện luận một phương trình bậc 2, các bài toán liên quan đến phương trình bậc 2, minh họa bằng đồ thị để hiểu sâu hơn về nghiệm của phương trình bậc 2
	- Hệ thức Viét và ứng dụng: Học sinh cần nắm vững nội dung của định lý Viét, dấu của nghiệm thông qua P, S. Biết vận dụng định lý vào làm các bài tập có liên quan
	- Dấu của tam thức bậc 2: Học sinh hiểu và vận dụng nội dung định lý dấu tam thức bậc hai để giải một bất phương trình bậc hai 
	* Giới thiệu cho học sinh tham khảo 1 số quyển sách có nội dung liên quan
	Thông qua kỹ năng xây dựng kế hoạch tự học, giúp cho học sinh rèn luyện kỹ năng học tập 1 cách khoa học, giúp học sinh phát triển tính độc lập sáng tạo, chu đáo trong học tập.
Biện pháp thứ hai: Rèn luyện cho học sinh kỹ năng nghe-thông hiểu và ghi chép bài giảng trong hoạt động tự học
 Để nghe giảng và ghi chép hiệu quả học sinh cần vận dụng linh hoạt các yếu tố sau đây:
	- Chuẩn bị nghe giảng: Để nghe giảng trên lớp có hiệu quả thì thời gian ở nhà học sinh phải thực hiện công việc sau: 
	+ Nắm chắc phần kiến thức đã học để có thể thấy được logic giữa bài cũ, bài mới để học sinh tiếp thu được vấn đề mới.
* Ví dụ 1: Trước khi học bài “ Phương trình bậc hai ” học sinh cần nắm vững khái niệm và cách giải phương trình bậc nhất để qua đó học sinh nắm bắt được khái niệm và cách giải phương trình bậc 2
	+ Cần đọc trước phần bài mới ở nhà, chỗ nào khó hoặc không hiểu ta cần đánh dấu để đến khi nghe giảng trên lớp cho đó tập trung hơn, từ đó tìm biện pháp khắc phục vấn đề chưa hiểu ( như hỏi trực tiếp giáo viên, bạn bè, hoặc đọc sách tham khảo)
	- Nghe giảng – thông hiểu và ghi chép trên lớp
	Trong quá trình nghe giảng, học sinh cần nắm được logic bài giảng theo từng phần, tong mục cũng như liên hệ với những phần đã học xem có liên quan như thế nào, qua đó vận dụng vốn kiến thức đã nghiên cứu trước ở nhà, từ đó so sánh đối chiếu với lời giảng của giáo viên để nắm được nội dung bài giảng. Suy nghĩ trả lời hệ thống các câu hỏi giáo viên đặt ra trong quá trình giảng bài 
* Ví dụ 2: Khi học vấn đề “ Phương trình và bất phương trình bậc hai một ẩn ” học sinh cần nghe và thông hiểu những vấn đề sau:
Khái niệm và phương pháp giải phương trình bậc 2
Hiểu và sử dụng thành thạo định lý Viet 
Thế nào là bất phương trình bậc 2
Giải một bất phương trình bậc 2 thực chất chúng ta phải làm gì
Hiểu và biết vận dụng định lý dấu tam thức bậc 2
Song song với việc nghe giảng là việc ghi chép. Học sinh cần có kỹ xảo viết nhanh, ghi chép bài giảng theo cách riêng mình, theo ý hiểu của mình nhằm đảm bảo tính độc lập sáng tạo. Muốn vậy phải biết tập trung ghi ý chính, những đề mục của bài giảng, nhanh chóng ghi lại những vấn đề cơ bản, quan trọng nhất của bài. Có thể gạch chân hay viết màu mực khác những mục hay hay những nội dung quan trọng
Sau khi kết thúc bài giảng, học sinh nên ghi tóm tắt những câu hỏi kiểm tra về phần đó (có thể ghi ngay trong vở, ở lề bên cạnh phần tương ứng)
- Xem lại và chỉnh lý bài ghi: Việc xem lại, sắp xếp lại và hoàn chỉnh bài giảng là việc làm không thể thiếu đối với học sinh vì qua đó nó khắc sâu kiến thức, mở rộng, bổ sung đưa ra những lý giải, cách nhìn độc lập của mình về một số vấn đề thông qua đọc thêm và các tài liệu tham khảo.
Biện pháp thứ ba: Rèn luyện cho học sinh kỹ năng nhận dạng và thể hiện khái niệm, định lý trong hoạt động tự học
Nhận dạng và thể hiện là hai dạng của hoạt động theo chiều hướng trái ngược nhau liên hệ với một định nghĩa, khái niệm, một định lý hay một phương pháp. Nhận dạng một khái niệm là phát hiện xem một đối tượng cho trước có thỏa mãn định nghĩa, khái niệm đó không. Nhận dạng một định lý là xét xem một tình huống cho trước có ăn khớp với định lý đó hay không. Thể hiện là tạo ra một tình huống phù hợp với định lý, định nghĩa, khái niệm đã cho
Căn cứ vào nội dung, mục đích yêu cầu dạy học chủ đề “ Phương trình và bất phương trình bậc hai một ẩn ” giáo viên cần tập trung hướng dẫn cho học sinh cách nhận dạng và thể hiện các khái niệm, định lý, định nghĩa về phần phương trình và bất phương trình bậc hai. 
Các định nghĩa: phương trình và bất phương trình
Quy trình giải phương trình bậc hai
Phát biểu và chứng minh các định lý : Định lý Viét, định lý dấu của tam thức bậc 2
Cách giải phương trình bậc 2, bất phương trình bậc 2, các phương trình và bất phương trình quy về bậc hai
Giải các bài toán phương trình và bất phương trình bậc 2 chứa tham số
* Ví dụ 1: Để nhận dạng định lý Viét giáo viên có thể cho học sinh làm bài tập sau
 Bài 1: Cho phương trình x2 + 5x + 2 = 0. Gọi x1; x2 là các nghiệm. Không giải phương trình tính giá trị của các biểu thức sau: S = x1 + x2; P = x1. x2
* Ví dụ 2: Bài tập thể hiện định lý Viét
 Bài 2: Cho phương trình: (m+1)x2 - 2(m-1)x + m-2 = 0
Xác định m để phương trình có 1 nghiệm bằng 2 và tính nghiệm còn lại
Xác định m để tổng bình phương các nghiệm bằng 2 
Biện pháp thứ tư: Rèn luyện cho học sinh kỹ năng đọc sách và tham khảo tài liệu trong hoạt động tự học 
Sách là hệ thống tri thức đã được loài người sáng tạo ra, vật chất hóa, khách quan hóa bằng hệ thống ngôn ngữ viết. Hoạt động tự học của học sinh gắn liền với việc đọc sách và tham khảo tài liệu. Đọc sách và tham khảo tài liệu là một hoạt động tất yếu trong hoạt động tự học của mỗi học sinh. Trong quá trình tự học thì học sinh phải đọc nhiều sách với mục đích khác nhau và mức độ khác nhau. Nhưng việc tham khảo nhiều đầu sách có thể làm cho học sinh hoang mang. Vì vậy học sinh gặp khó khăn trong việc đọc quyển sách tham khảo, tài liệu lắm khi việc đọc sách tham khảo chẳng giúp ích gì mà trái lại còn đặt học sinh trước khó khăn mới. Khi đó học sinh có nguy cơ bị sa lầy trong một mớ kiến thức rối rắm và có thể đi đến nản lòng. Vì vậy cần phải có cách đọc phù hợp thì hiệu quả mới cao, đỡ tốn kém thời gian và công sức trong việc tự học.
Những yêu cầu khi đọc sách và tài liệu tham khảo:
- Phải xác định được mục đích rõ ràng: xác định mục đích đọc sách, tài liệu tham khảo ( đọc để làm gì?) giúp người đọc định hướng khai thác những kiến thức cần đọc có trong sách, tài liệu tham khảo, từ đó biết lựa chọn sách, tài liệu tham khảo để đọc, lựa chọn cách đọc và chú ý đến những vấn đề chủ yếu mà mình đang cần tìm hiểu. Thông thường việc đọc sách, tài liệu tham khảo được xuất phát từ mục đích sau:
+ Tìm hiểu nội dung của toàn bộ quyển sách
+ Tìm hiểu một vấn đề, một khía cạnh nào đó có trong quyển sách
+ Tìm hiểu các định nghĩa, các khái niệm, các phương pháp liên quan đến vấn đề cần nắm 
- Phải biết lựa chọn sách, tài liệu tham khảo để cho phù hợp với khả năng, phù hợp nội dung kiến thức mà mình đang nghiên cứu 
- Phải nắm được các phương pháp đọc sách: căn cứ vào mục đích đọc sách, người đọc có thể sử dụng các phương pháp đọc sách sau đây:
+ Đọc lướt qua một lượt nhằm tìm hiểu khái quát nội dung quyển sách theo trình tự: Tên sách, tên tác giả, nhà xuất bản, năm xuất bản, đọc mục lục và xem qua phần giới thiệu cũng như phần kết luận của quyển sách
+ Đọc kỹ toàn bộ quyển sách, có nhận xét đánh giá những chi tiết, những đặc điểm kết cấu của quyển sách
+ Đọc có trọng điểm: Tìm và đọc những nội dung, kiến thức liên quan đến vấn đề mình đang nghiên cứu có trong quyển sách.
Mỗi cách đọc sách đều phù hợp với một mục đích nhất định của việc tự học, vì thế người đọc cần biết cách phối hợp các cách đọc để khai thác các vấn đề cũng như giải quyết các nhiệm vụ cụ thể trong việc học tập của mình
+ Tích cực tư duy đọc sách: trong quá trình đọc sách, học sinh cần phải phối hợp các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, tương tự hóa, đặc biệt hóa để phát hiện ra thuộc tính bản chất, cái chủ yếu, cái không chủ yếu của vấn đề được nêu ra trong sách trên cơ sở đó rút ra những nhận xét, đánh giá, những kết luận đúng đắn, về nội dung cũng như kết cấu của quyển sách
- Phải ghi chép 1 cách khoa học những điều đã đọc: hiệu quả của việc đọc sách được thể hiện ở kết quả ghi chép được trong khi đọc. Đọc và ghi chép luôn gắn liền với nhau, tác động và bổ sung cho nhau
Tóm lại: Thông qua kỹ năng đọc sách và tài liệu tham khảo cung cấp cho học sinh các phương pháp cũng như yêu cầu khi đọc sách và tài liệu tham khảo. qua đó giúp cho học sinh củng cố các tri thức kỹ năng, kỹ xảo, giúp học sinh ngày càng nâng cao độc lập suy nghĩ, rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy như phân tích tổng hợp, suy diễn đặc biệt hóa, tương tự hóa Góp phần rèn luyện kỹ năng giải toán, khả năng độc lập sáng tạo và rèn luyện cho học sinh đức tính kiên nhẫn, chính xác, chu đáo trong học tập. Những điều trên rất cần thiết cho việc tự học toán của học sinh. 
Biện pháp thứ năm: Rèn luyện cho học sinh kỹ năng phân loại các dạng bài tập trong hoạt động tự học 
Phân loại các dạng bài tập là sắp xếp các bài tập theo một trình tự hoặc theo một loại nào đó, hoặc theo một dấu hiệu chung nào đó. Học sinh phải biết phát hiện ra những đặc điểm giống nhau và khác nhau, qua đó phân chia hệ thống các bài tập theo một dấu hiệu nhất định. Học sinh cần nắm vững phương pháp chung để giải từng dạng bài tập điển hình.
Trong chủ đề “ Phương trình và bất phương trình bậc 2, một ẩn” chúng ta thường gặp các dạng bài tập cơ bản sau:
+ Giải và biện luận phương trình bậc 2 
+ Các bài toán áp dụng định lý Viet như: Nhẩm nghiệm, tính giá trị của biểu thức đối xứng, xét dấu các nghiệm của phương trình bậc hai
+ Các bài toán áp dụng định lý dấu tam thức bậc 2: Giải và biện luận bất phương trình bậc 2, so sánh nghiệm của phương trình bậc 2 với một số hoặc hai số cho trước, các bài toán thỏa man đồng thời nhiều điều kiện
+ Các bài toán quy về bậc hai 
IV. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
	* Một số nhận xét qua một các tiết dạy thử nghiệm theo định hướng của đề tài
	- Các giờ học được tiến hành theo hướng trên dễ điều khiển học sinh tham gia vào hoạt động học tập, thu hút được nhiều đối tượng cùng tham gia.
	- Qua các hoạt động học tập ( trả lời từng câu, từng phần trong phiếu học tập ) học sinh tự rút ra được kiến thức mới, nắm ngay được các kiến thức cơ bản trên lớp. Đồng thời giáo viên cũng dễ dàng phát hiện được những sai lầm thường mắc phải của học sinh để có hướng khắc phục.
	- Học sinh tham gia các tiết học sôi nổi, nhiệt tình và hào hứng hơn. Trong các tiết học, học sinh tự hoàn thành các bài tập, vì thế việc học tập của mỗi học sinh sẽ được chủ động, sáng tạo, tự giác hơn, qua đó giúp học sinh tự mình giành lấy kiến thức 
	- Muốn các hoạt động tự học có hiệu quả trên lớp, giáo viên phải nghiên cứu bài giảng mới, các kiến thức cũ có liên quan, để có một hệ thống câu hỏi, bài tập có thể dẫn dắt đến kiến thức mới. Vì thế giáo viên cần đầu tư thời gian nhiều hơn cho việc chuẩn bị bài giảng.
	* Đề kiểm tra chủ đề “ Phương trình bậc 2 ”
Bài 1: Cho phương trình 
	(m+2) x2 - 2(m-1) x + m - 2 = 0
	a) Giải phương trình với m=1
	b) Tìm các giá trị của m để tổng lập phương các nghiệm bằng 3
Bài 2:	 Cho phương trình
	x2 - 6x + m-2 = 0
	a) Tìm m để phương trình có hai nghiệm phân biệt 
	b) Xác định m để phương trình có hai nghiệm trái dấu.
	* Sau khi cho học sinh ở 2 lớp, một là lớp thực nghiệm, một là lớp đối chứng làm đề kiểm tra về phương trình bậc 2 thấy kết quả bài kiểm tra như sau:
Điểm
Số học sinh
Lớp thử nghiệm
Lớp đối chứng
Tỷ lệ %
Tỷ lệ %
Số học sinh
0 - 2
0
0
0
0
3 - 4
5
11
15
29
5 - 6
30
65
26
60
7 - 8
8
15
5
11
9 - 10
4
9
1
2
% Từ trung bình trở lên
89%
71%
Nhận xét về kết quả thử nghiệm:
+ Kết quả thử nghiệm cho thấy lớp thử nghiệm nắm vững được kiến thức cơ bản.
+ Lớp thử nghiệm trình bày ngắn gọn, mạch lạc, rõ ràng hơn, linh hoạt hơn.
Chẳng hạn:
- Bài 1, câu a lớp đối chứng hầu hết học sinh giải phương trình bằng cách áp dụng máy móc các bước giải phương trình bậc hai, các em đều đi tính D rồi suy ra nghiệm theo công thức nghiệm. Trong khi đó lớp thử nghiệm học sinh linh hoạt hơn trong cách giải, đã biết chuyển vế và nhận xét để có ngay nghiệm của phương trình.
- Bài 1, câu b lớp đối chứng học sinh đều quên không xét đến điều kiện để phương trình có hai nghiệm, còn lớp thử nghiệm thì các em trình bày đày đủ, rõ ràng hơn và hầu hết các em học sinh đều không quên điều kiện.
Về kết quả, lớp thử nghiệm có kết quả từ trung bình trở nên cao hơn lớp đối chứng là 18%. Lớp thử nghiệm có kết quả điểm giỏi cao hơn lớp đối chứng là 7%
PHẦN III - KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
KẾT LUẬN
1.1. Hoạt động tự học đã được các nhà giáo dục học và toán học quan tâm và xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Quá trình dạy học trong trường phổ thông không thể tách rời với hoạt động tự học của học sinh. Đây là một hình thức dạy học cơ bản và có mối liên hệ chặt chẽ với những hình thức tổ chức dạy học khác ở trường trung học phổ thông
	1.2. Thực trạng hoạt động tự học của THPT còn hạn chế ở nhiều mặt. Biểu hiện cụ thể là khả năng tự học, tự rèn luyện chưa mạnh mẽ, học sinh thiếu năng lực tự học nên thực hiện các hoạt động tự học chưa hợp lý, thiếu khoa học, hiệu quả thấp. Vì vậy muốn nâng cao chất lượng tự học cho học sinh trung học phổ thông phải bắt đầu từ việc rèn luyện cho học sinh hệ thống các kĩ năng bao gồm: kĩ năng lập kế hoạch tự học; kĩ năng nghe- thông hiểu và ghi cháp bài giảng; kĩ năng nhận dạng và thể hiện định nghĩa, khái niệm, dịnh lí; kĩ năng đọc sách và tài liệu tham khảo; kĩ năng phân loại các dạng bài tập. Rèn luyện kĩ năng tự học không phải là phó mặc cho học sinh tích lũy tự phát mà trong quá trình day học, giáo viên phải tạo điều kiện để học sinh ý thức được nhiệm vụ học tập của mình và giáo viên phải tổ chức cho học sinh nắm bắt được những tri thức cần thiết về những kĩ năng tự học, đồng thời phải cải tiến việc tổ chức quá trình dạy học theo hướng dạy tự học
2. KHUYẾN NGHỊ:
 Để nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả việc tự học của học sinh THPT chúng tôi khuyến nghị
 2.1. Nhà trường cần quan tâm đến việc rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh ngay từ đầu năm học lớp 10 giúp cho họ có ý thức rõ nhiệm vụ học tập của mình trong suốt thời gian học ở trường THPT.
 2.2. Cần chủ động và tích cực hình thành các kĩ năng tự học cho học sinh, ngay từ lớp 10 bằng nhiều biện pháp khác nhau. Những biện pháp trao đổi, hướng dẫn cho học sinh lớp 10 cách thức ghi tóm tắt bài giảng, cách xây dựng kế hoạch học tập cá nhân,cách tham khảo tài liệu ở nhà, ở thư viện, cách phân loại các dạng bài tập... là những biện pháp có tác dụng tốt. Những biện pháp này có thể thực hiện dưới hình thức trao đổi kinh nghiệm học tập giữa học sinh giỏi của lớp 11, 12 với học sinh lớp 10, sự giúp đỡ của thầy, đưa vào chương trình các giờ học.
 2.3. Quá trình dạy học toán ở trường THPT cần được tổ chức theo hướng dạy- tự học, phát huy cao độ, tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh, tạo hứng thú học tập môn toán và hình thành kĩ năng tự học cần thiết- cơ sở để họ có thể tự học, tự đào tạo suốt đời.
 2.4. Tạo điều kiện vật chất, tinh thần thuận lợi cho hoat động tự học của học sinh như đảm bảo tốt các phương tiện, giáo trình, tài liệu tham khảo, phòng học... và có chế độ khuyến khích hợp lý đối với những học sinh học giỏi. Đồng thời xây dựng phong trào tự học trong tập thể học sinh một cách thường xuyên.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường trung học phổ thông nhiều cấp học, tháng 4/2007.
Hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2010-2011, NXB Giáo dục, 2010
Đổi mới quản lý trường THPT nhằm triển khai thực hiện phân ban THPT của PGS.TS Hà Thế Truyền, Học viện Quản lý Giáo dục – thế giới trong ta tháng 8/2007.
Nguyễn Cảnh Toàn, Luận bàn và kinh nghiệm về tự học, Tủ sách tự học, 1995
Nguyễn Cảnh Toàn, Tự giáo dục, tự nghiên cứu, tự đào tạo, NXB ĐHSP, 2001

File đính kèm:

  • docTuan_Minh_SKKN_TOAN_10_hay.doc
Sáng Kiến Liên Quan