Sáng kiến kinh nghiệm Dạy từ Hán Việt

 M.Go-rơ-ki nhà văn vĩ đại của nền văn học thế giới đã từng nói:“Văn học là nhân học”, ''Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng hướng tới chân lí". Đúng như vậy! Văn học nói chung hay môn Ngữ văn nói riêng có tác động vô cùng to lớn đối với đời sống tình cảm cũng như việc phát triển tư duy của con người; giúp giáo dục, bồi đắp tư tưởng, tình cảm, đạo đức cho học sinh một cách hiệu quả nhất. Không chỉ vậy, môn Ngữ văn còn có mối liên hệ tương hỗ với các môn học khác. Học tốt môn văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác và ngược lại các môn học khác cũng góp phần học tốt môn văn. Trong mối quan hệ tích cực đó, từ Hán – Việt đóng một vai trò không thể phủ nhận được hay nói một cách khác là nó có vai trò vô cùng to lớn. Nhờ sự đóng góp của từ Hán – Việt mà tiếng Việt thêm giàu có, tinh tế, trang nhã, chuẩn xác và uyển chuyển, đủ khả năng đáp ứng một cách tốt nhất mọi sự diễn đạt của con người trong giao tiếp, trong đời sống văn hoá xã hội. Bên cạnh đó, lớp từ này còn giúp người Việt cảm nhận được tất cả cái hay cái đẹp trong những tác phẩm văn chương với việc hiểu tường tận từng từ Hán - Việt ở trong những tác phẩm đó.

doc23 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 05/08/2015 | Lượt xem: 3728 | Lượt tải: 23Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Dạy từ Hán Việt", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Những từ như khuyến mãi, khuyến mại, gái mại dâm, gái mãi dâm hay bị sử dụng lầm lẫn . Mại là bán, Mãi là mua khác nhau rõ ràng. Gái bán hoa phải gọi là gái mại dâm chứ không thể là gái mãi dâm được .
	J Mạn và Mãn :
	“Mãn” là tràn đầy, “mạn” là chậm. Nói “Mãn tính” (Vd: Viêm xoang là một bệnh mãn tính là không đúng). Cần nói những bệnh phát triển chậm, lâu là bệnh “mạn tính”.v.v
 Giáo viên cũng có thể chỉ cho học sinh lỗi dùng thừa từ mà chúng ta hay gặp như : đường quốc lộ (lộ: đường), cây cổ thụ (thụ: cây), bà quả phụ (phụ: bà), ngày sinh nhật (nhật: ngày)..v.v . Như vậy, chúng ta thấy nhà trường có vai trò rất quan trọng trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và mỗi người giáo viên phải có nhiệm vụ góp sức nhỏ bé của mình vào việc giữ gìn sự trong sáng đó.
 3. Kể chuyện :
 Kể chuyện là một phương pháp giảng dạy gắn lí thuyết với thực tiễn. Kể chuyện không chỉ giúp cung cấp kiến thức, mở ra một chân trời mới cho học sinh mà còn giúp tạo hứng thú cho học sinh trong các giờ học.
 Với bài “Chơi chữ” trong sách Ngữ văn 7 giáo viên có thể vào bài bằng câu chuyện “Đại điểm quần thần”. Cụ thể : năm 1934, quận Tâm ( Nguyễn Văn Tâm) được thăng ngạch Đốc phủ sứ. Ngày khai bằng khánh hạ, mấy trăm người đến dự và tặng rất nhiều quà cáp. Bấy giờ ở Long Tiên có ông Nguyễn Thiện Tiên, tục gọi là Hương Nghị Sảnh, nguyên là con trai cụ Nguyễn Minh Triết, người của phong trào Minh Tân. Ông Nghị vốn là người học giỏi và cương nghị, tuy chỉ làm chức vụ nhỏ trong Ban hội hương nhưng cũng bị buộc phải đi dự lễ khai bằng. Ông bèn thuê thợ làm một tấm hoành phi sơn son thếp vàng, chạm khắc bốn chữ “Đại điểm quần thần”, hàm ý khen tặng, trong số bầy tôi của mẫu quốc, quan Đốc phủ làm điểm nổi bật nhất, to nhất.
Giáo viên cho học sinh tìm hiểu tử Hán – Việt : Đại nghĩa là gì? Điểm nghĩa là gì? Quần thần nghĩa là gì? Từ đó giải thích ý nghĩa câu chuyện. Đại nghĩa là to, lớn. Điểm nghĩa là chấm. Quần thần là bề tôi, miền Nam là bầy tôi(Quận Tâm ở Tây Ninh). Câu chuyện tiếp theo như sau:
Ít lâu sau mới có người phát hiện đây chỉ là câu chơi chữ, nói lái:
- Đại điểm là chấm to, lái lại là chó Tâm.
- Quần thần là bầy tôi, nói lái là bồi Tây.
Quận Tâm tức cành hông, nhưng tác giả thì đã cao chạy xa bay.
 Như vậy, học sinh ngoài hiểu, thích thú với nghệ thuật chơi chữ còn thấy được cái hay của từ Hán – Việt.
	 Còn với bài :  "Tinh thần yêu nước của nhân dân ta”  trong chương trình Ngữ văn 7 ta có thể kể một câu chuyện làm sáng tỏ truyền thống, tinh thần yêu nước của nhân dân ta như chuyện về vị sứ thần “Bất Nhục Quân Mệnh” Giang Văn Minh. 
Giang Văn Minh (1582 – 1639) tự Quốc Hoa, hiệu Văn Chung, người làng Mông Phụ (tên nôm là Kẻ Mía), xã Đường Lâm, tổng Cam Giá, huyện Phúc Lộc, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây nay là Hà Nội). Ông đỗ đầu thi Hội (Hội nguyên) rồi thi Đình đỗ Đình nguyên Thám hoa (không có Trạng nguyên, Bảng nhãn) khoa Mậu Thìn, niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 10 (1628) đời Lê Thần Tông. Làm quan đã từng trải qua các chức: Binh khoa đô cấp sự trung (1630), Thái bộc tự khanh (1631). Năm Đinh Sửu, niên hiệu Dương Hoà năm thứ 3 (1637), ông và Thiêm đô ngự sử Nguyễn Duy Hiểu được cử làm chánh sứ cùng với bốn phó sứ là: Nguyễn Quang Minh, Trần Nghi, Nguyễn Bình và Thân Khuê dẫn đầu hai đoàn sứ bộ sang cầu phong và tuế cống nhà Minh. Lúc này mặc dù nhà Mạc đã chạy đi Cao Bằng nhưng nhà Minh vẫn áp dụng chính sách ngoại giao hai mặt (với cả Lê và Mạc) và vẫn ngầm mong cho cuộc nội chiến Lê - Mạc kéo dài, nên sau khi sang đến Yên Kinh, sứ bộ ta phải ăn chực nằm chờ ở dịch xá gần một năm trời. Đến khi triều kiến, Minh Tự Tông lấy lý do “Vì lệ cũ không có những quy định cụ thể cho việc sắc phong, do đó trong khi còn chờ tra cứu chỉ ban sắc thư để tưởng lệ” và – để thị uy – Minh Tự Tông đã ngạo mạn ra cho sứ bộ một vế đối:
Đồng trụ chí kim đài dĩ lục
 	 (Cột đồng đến nay rêu đã xanh)
 Nhắc việc Mã Viện đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, sau đó cho chôn một chiếc cột đồng với lời nguyền: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (Cột đồng gãy thì Giao Chỉ - tức Đại Việt - bị diệt vong). Không chút do dự, Giang Văn Minh đối ngay:
 Đằng Giang tự cổ huyết do hồng
 (Sông Đằng từ xưa máu còn đỏ)
 Vế đối vừa chỉnh, vừa nhắc lại việc các triều đình phong kiến phương Bắc trong quá khứ đã ba lần bị quân dân Đại Việt đánh cho đại bại trên sông Bạch Đằng. Đó là: Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán (938), Lê Hoàn phá Tống (981) và Trần Hưng Đạo đại phá quân Nguyên Mông lần thứ ba – 1288). Trước đông đảo văn võ bá quan của Thiên triều và sứ bộ các nước, việc làm của Giang Văn Minh quả là ngang với tát vào mặt vua Minh Tự Tông. Bất chấp luật lệ bang giao, Minh Tự Tông đã hèn hạ thét bọn đao phủ trói ông lại, gắn trám đường vào miệng và mắt rồi cho người mổ bụng xem “sứ thần An Nam to gan lớn mật đến đâu”! Hôm đó nhằm ngày mùng 2 tháng 6 năm Kỷ Mão (1639). Tính ra, ông mới 58 tuổi. Hòng uy hiếp vua, dân Đại Việt, sau đó Minh Tự Tông còn cho ướp xác ông bằng bột thuỷ ngân và cho sứ bộ ta đem thi hài ông về nước. Khởi hành từ tháng Chạp năm Đinh Sửu (1637) đến cuối mùa thu năm Kỷ Mão (1639), phái bộ ta mới đặt chân về đến cửa quan. Như vậy, chuyến đi sứ lần này tính ra kéo dài gần hai năm. Thi hài Giang Văn Minh được quàn tại Đồng Dưa, thuộc xứ Gò Đông, thôn Mông Phụ, xã Đường Lâm (quê ông). Vua Lê Thần Tông đã cho cử hành lễ quốc tang và đích thân viết bài văn tế .
 Với khí phách của một sứ thần “Đi sứ không để nhục mệnh vua”, Giang Văn Minh đã đựơc vua Lê Thần Tông truy tặng chức: Công bộ Tả thị lang, tước Vinh Quận công. 
	Rõ ràng câu chuyện không chỉ là dẫn chứng hết sức sinh động cho bài học mà còn là cơ hội cung cấp, phát triển kĩ năng học từ Hán – Việt của học sinh bằng cách hỏi học sinh những từ Hán – Việt có trong câu đối .
	Khi dạy về văn học địa phương giáo viên có thể cho học sinh tìm hiểu đôi câu đối về Nguyễn Trung Trực :
	“Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa
	 Kiếm bạt Kiên Giang khốc quỉ thần”
	( Lửa đỏ sông Nhật Tảo vang trời đất
	Kiếm Kiên Giang tung hoành khiến quỉ thần phải khiếp sợ)
 Giáo viên cho học sinh tìm hiểu nghĩa từng chữ, tên địa danh gắn liền với chiến công hiển hách của vị anh hùng dân tộc qua đó không những giáo dục lòng yêu nước mà còn cung cấp kiến thức về từ Hán – Việt, về lịch sử, địa lí cho học sinh.
II / MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TỪ HÁN – VIỆT :
Lập sổ tay Hán – Việt :
 Giáo viên cho học sinh tự lập sổ tay để ghi chép từ Hán – Việt có trong bài học về từ Hán – Việt, có ở phần phụ lục sách giáo khoa Ngữ văn kì hai các lớp, ở phần chú thích sau các văn bản, ở trong các bài thơ Đường luật ( như “Hồi hương ngẫu thư”, “Nam quốc sơn hà”.........) hoặc giáo viên cung cấp trong bài, hoặc học sinh sưu tầm .... 
 Ví dụ :
Yếu tố H–V
Nghĩa
Từ chứa yếu tố H –V
Dĩ
1.Dùng, lấy
Dĩ hòa vi quí
2 . Thôi , đã rồi
Dĩ nhiên
Dị
 Khác , không bình thường , quái lạ, riêng , đặc biệt 
Dị bản , kì dị 
Diêm 
Muối 
Diêm sinh, diêm dân 
Diệm(Diễm) 
Nhan sắc đẹp đẽ, sáng sủa
Kiều diễm 
Tham khảo thêm tài liệu: “Bồi dưỡng về từ Hán– Việt” của trường PTCS Bãi Thơm năm 2009 tại : hptt://baithom.tk.
 Giáo viên sẽ hướng dẫn, nhắc nhở, kiểm tra, động viên...... học sinh giúp học sinh có thêm thật nhiều vốn từ. 
Dạy học qua thành ngữ Hán – Việt :
 Thành ngữ Hán - Việt dùng để chỉ những kết cấu ngôn ngữ rất ổn định, thông thường cô đọng về mặt ngữ nghĩa thịnh hành trong tiếng Hán, được du nhập vào nước ta và được nhân dân sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay . Trước khi ghi tên bài học mới lên bảng giáo viên ghi một câu thành ngữ ( sau đó có thể là một câu danh ngôn, tục ngữ, câu thơ trong Kinh Thi....) lên góc phải bảng để học sinh có thêm kiến thức về từ Hán – Việt, kích thích sự tò mò, ham hiểu biết của học sinh....Cuối giờ giáo viên cho học sinh tìm hiểu nghĩa của từng thành tố Hán – Việt sau đó tìm hiểu nghĩa của thành ngữ đó. Ví dụ một số thành ngữ :
Bạch diện thư sinh :
Nghĩa :
	+ Nghĩa đen : học trò mặt trắng 
	+ Nghĩa bóng : Người học trò chưa có kinh nghiệm 
Bất nhập hổ huyệt, bất đắc hổ tử :
Nghĩa :
	+ Nghĩa đen : Không vào hang hùm sao bắt được cọp con 
 + Nghĩa bóng : Phải có gan mạo hiểm mới làm được việc khó.
Khắc cốt minh tâm :
Nghĩa : 
+ Nghĩa đen : chạm vào xương, ghi vào lòng. 
+ Nghĩa bóng : ghi nhớ không bao giờ quên
Nhất nhật vi sư, chung thân vi phụ :
Nghĩa : Một ngày cũng là thầy, suốt đời mới là cha.
Nhất tiếu thiên kim :
Nghĩa : 
+ Nghĩa đen: Một cái cười đáng giá nghìn vàng. 
+ Nghĩa bóng : Ca tụng một phụ nữ đẹp. 
Phu xướng phụ tùy . 
Nghĩa :
+ Nghĩa đen: Tùy nghĩa là theo. Chồng nói, làm gì, vợ cũng làm theo. 
+ Nghĩa bóng : Một quan niệm phong kiến cho là người phụ nữ phải luôn luôn phục tùng người chồng..
 Như vậy ngoài việc học tìm hiểu từ Hán – Việt học sinh còn hiểu cặn kẽ các thành ngữ đó để sử dụng trong cuộc sống hàng ngày hoặc trong đời sống.
3. Trò chơi : Chơi mà học – học mà chơi đó là cách học hiệu quả nhất.
 3.1.Ván bài lật ngửa :
 Giáo viên hướng dẫn các em làm bộ bài để chơi. Bộ bài kích thức hình dáng giống như bộ bài Tây chỉ khác hai mặt đều ghi chữ được( Hai mặt màu khác nhau). Một mặt ghi từ Hán – Việt, một mặt ghi nghĩa của từ Hán – Việt đó. Khi hướng dẫn xong giáo viên sẽ giao cho mỗi nhóm một lượng từ khác nhau để các nhóm về nhà thực hiện. Sau khi đã hoàn thành bộ bài giáo viên hướng dẫn cách chơi như sau : Cả lớp sẽ thành nhiều đội chơi, mỗi đội chơi gồm hai người, bộ bài sẽ được chia đều số quân cho cả hai. Quy định cách đánh tùy theo sự thống nhất của cặp chơi. Nếu người đầu tiên đánh mặt từ Hán – Việt thì người kia sẽ phải trả lời nghĩa của nó. Trả lời không đúng hoặc không trả lời được thì người đánh sẽ đánh tiếp, còn trả lời được thì người trả lời sẽ được quyền đánh. Cứ như thế nếu ai hết bài trước sẽ là người chiến thắng. Trò chơi này học sinh có thể sử dụng đánh trong những thời gian rảnh rỗi ở nhà , ở lớp hoặc tự mình chơi để nhớ nghĩa từ Hán – Việt. 
3.2.Tìm từ cùng chủ đề :
 Giáo viên chia lớp thành bốn đội. Giáo viên cho bốn chủ đề học sinh các đội sẽ thay nhau chạy lên bảng để ghi từ mà đội mình tìm được theo chủ đề mà thầy đã giao, đội nào ghi đúng và nhiều thì đội đó sẽ thắng. Ví dụ chủ đề màu sắc : bạch, hắc, hoàng , thanh, hồng .....
 3.3.Nối cột :
 Giáo viên treo bốn bảng phụ, mỗi bảng gồm hai cột từ Hán – Việt và nghĩa của nó, quy định thời gian rồi cho các đội từng em một chạy nên nối cột đội nào ghi nhiều, đúng sẽ thắng. Ví dụ :
 Nối các từ HV với nghĩa của nó :
Từ Hán – Việt :	 Nghĩa :
 Thái bình 	 Ngàn xưa
 Thiên cổ	 Rất yên ổn, yên bình.
 Giang san	 Núi sông
 Thiên bẩm	 Dưới gầm trời (chỉ toàn xã hội; người ta)
 Thiên hạ	 Trời cho, trời ban.
 4. Cung cấp tài liệu :	
 Giáo viên cung cấp những tài liệu giúp học sinh học tập tốt từ Hán – Việt như cung cấp những bài đọc vần, thơ vần. Ví dụ : 
“Thiên trời , địa đất , vân mây
Vũ mưa, phong gió, nhật ngày, dạ đêm
Cân khăn, y áo, thường xiêm
Đao dao, phủ búa, liêm liềm, sáp mai
Song đôi, nhất một, nhị hai
Bát tám, cửu chín, thập mười, vạn muôn
Họat bùi, cam ngọt, chỉ ngon
Toan chua, khổ đắng, quỷ dòn, tân cay
Tâm lòng, diện mặt, thủ tay
Tu râu, phát tóc, mi mày, túc chân
Lượng lường, xích thước, hoành cân
Cao sào, trượng gậy, can cần, tiêu nêu
Kê gà, nga ngỗng, đồn heo
Ngưu trâu, khuyển chó, miêu mèo, dương dê
Mộc cây, thảo cỏ, duân tre
Lương khê, mạch bắp, ma mè, giá dâu
Trì ao, tỉnh giếng, kiều cầu
Lang cau, yên thuốc, phù trầu, hôi vôi
Thán than, sài củi, mai mồi
Phùng may, hoạ vẽ, hồ bồi, tú thêu
Hổ hùm, thố thỏ, chương cheo
Lộ cò, ô quạ, diêu diêù, âu le
Vi làm, kiến thấy ,văn nghe
Tín tin, thành thật, khoa khoe, nhượng nhường
Kê trâm, trất lược, kính gương
Duy màn, tịch chiếu, sàng giường, phiên phên
Tông dòng, tính họ, danh tên
Vinh sang, đại cả, kiên bền, cửu lâu
Nhân người, tế rể, hôn dâu
Phu chồng, thê vợ, thiềp hầu, nhi con
Phương vuông, khúc vạy, viên tròn
Thành nên, kí dã, do còn, ngọ chưa
Thái rau, hàn mắm, thư đưa
Du bòng, lại mít, đa dừa, hoa bông
Nguyên nguồn, tể gặn, thanh trong
Hồ ao, hải biển, hà sông, ngạn bờ
Niên năm, nguyệt tháng, thời giờ
Tốc mau, trì chậm, giãi chờ ,vọng trông
Bất chăng, hữu có, vô không
Canh cày, quán tưới, thực hồng, bá gieo
Hành đi, tẩu chạy, duyên leo
Bả cầm, bạt rút, huyền treo, bão bồng
Lân long, phương phượng, long rồng
Quy rùa, hạc hạc, tước công, bàng hàng
Luận bàn, ẩm uống, thực ăn
Gián can, xiểm nịnh, tưởng khen, thệ thề
Du chơi, cư ở, quy về
Thiện lành, ác dữ, xi chê, tiếu cười
Khứ đi, trú ở, thiên giời
Kỉ 12 năm, kiếp vận, thế đời, đại thay
Cổ xưa, tân mới, kim nay
Thanh xanh, khô héo, tiên tươi, tạ tàn »
Hay :
 « Thiên trời, địa đất, cử cất, tồn còn, tử con, tôn cháu, lục sáu, tam ba, gia nhà, quốc nước ,tiền trước, hậu sau, ngưu trâu, mã ngựa, cự cựa, nha răng, vô chăng, hữu có, khuyển chó, dương dê, quy về, tẩu chạy, bái lạy, quỳ qùy, khứ đi, lai lại, nữ gái, nam trai, đái đai ,quan mũ, túc dủ, đa nhiều, ái yêu, tăng ghét, thức biết, trí hay, mộc cây, căn rễ, di dễ ,nan khôn, chỉ ngon, cam ngọt, trụ cột, lương rường, sàng giường, tịch chiếu, khiếm thiếu, dư thừa, sứ bừa, cúc quốc, chúc đuốc, đăng đèn, thăng lên, giáng xuống, điền ruộng, trạch nhà, lão già, đồng trẻ, tước sẽ, kê gà, ngã ta, tha khóc, bá bác, di dì ». 
 Học sinh sẽ dễ dàng học thuộc và từ đó đã có vốn từ Hán – Việt tương đối . Lại có nhiều ý kiến cho rằng phải dạy trong trường Phổ thông (PTCS, PTTH) cách viết 214 bộ thủ ta cũng có thể cung cấp từ Hán- Việt( ví dụ mộc, thủy..), nghĩa (cây, nước) của 214 bộ này để học sinh học trước khi việc dạy này được Bộ Giáo dục triển khai (các nước như Nhật, Hàn Quốc, Singgapo đã làm) :
DIỄN CA BỘ THỦ
“MỘC (木) - cây, THỦY (水) - nước, KIM (金) - vàng 
HỎA (火) - lửa, THỔ (土) - đất, NGUYỆT (月)- trăng, NHẬT (日) - trời 
XUYÊN (川) - sông, SƠN (山) - núi, PHỤ (阜) - đồi 
TỬ (子) - con, PHỤ (父) - bố, NHÂN (人) - người, SỸ (士) - quan 
MIÊN (宀) - mái nhà, HÁN (厂) - sườn non 
NGHIỄM (广) - hiên, HỘ (戶) - cửa, cổng - MÔN (門), LÝ (里) - làng
CỐC (谷)- thung lũng, HUYỆT (穴)- cái hang
TỊCH (夕) - khuya, THẦN (辰) - sớm (4), Dê – DƯƠNG (羊), HỔ(虍) - hùm
 NGÕA (瓦) - ngói đất, PHẪU (缶) - sành nung 
Ruộng - ĐIỀN (田), thôn - ẤP 邑 (5), què - UÔNG (尢), LÃO(老) - già
DẪN 廴- đi gần, SƯỚC 辶 - đi xa
BAO 勹 - ôm, TỶ 比 - sánh, CỦNG 廾 - là chắp tay
ĐIỂU 鳥 - chim, TRẢO 爪 - vuốt, PHI 飛 - bay
TÚC 足 - chân, DIỆN 面 - mặt, THỦ 手 - tay, HIỆT 頁 - đầu
TIÊU 髟 là tóc, NHI 而là râu
NHA 牙 - nanh, KHUYỂN 犬 - chó, NGƯU 牛- trâu, GIÁC 角 - sừng
DỰC 弋 - cọc trâu, KỶ 己 - dây thừng
QUA 瓜 - dưa, CỬU 韭 - hẹ, MA 麻 - vừng, TRÚC竹 - tre
HÀNH 行 - đi, TẨU 走 - chạy, XA 車 - xe 
MAO 毛 - lông, NHỤC 肉 - thịt, Da 皮 - Bì, CỐT 骨 - xương...
( Xin được không dẫn hết)
III / KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC :
	Những giải pháp được trình bày ở trên, tôi đã áp dụng từ những năm đầu công tác trong ngành giáo dục. Cuối năm học 2011-2012 kiểm tra thử hai lớp 8/3, 9/3 đã đạt được những kết quả rất khả quan :
 Điểm
Lớp
Điểm 8-10	
Điểm 5 - 7
Điểm dưới 5
SL
%
SL
%
SL
%
Lớp 8	(7 HS)
3
42,84
3
42,84
1
14,32
Lớp 9	(6 HS)
3
50
3
50
0
0
D / KẾT LUẬN  :
1 . Tóm lược giải pháp :
	Như vậy, muốn học sinh học tốt từ Hán – Việt thì công việc đầu tiên giáo viên cần tạo hứng thú, truyền cảm hứng cho học sinh bằng nhiều cách như tìm hiểu ý nghĩa những cái tên, đi tìm vẻ đẹp của từ Hán – Việt.... Công việc thứ hai là phải có phương pháp dạy từ Hán – Việt sao cho phù hợp như cho học sinh lập sổ tay Hán – Việt, dạy thành ngữ Hán – Việt, sử dụng trò chơi trong dạy học hoặc cung cấp tài liệu bổ ích, dễ học, dễ thuộc cho học sinh....
 Tóm lại, với những hình thức, phương pháp như trên giáo viên có thể linh động lồng ghép, tích hợp vào các bài học có liên quan hay khi gặp những từ Hán – Việt trong bài học giáo viên hỏi và giải thích cho học sinh góp phần giúp cho bài giảng sinh động cũng như giúp học sinh có hứng thú, có thêm kiến thức về từ Hán – Việt. Trong hai tiết học về từ Hán – Việt chính thức trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 7 kì 1 ngoài việc truyền đạt đầy đủ kiến thức giáo viên có thể nâng cao, mở rộng vấn đề truyền cảm hứng cho học sinh. Ngoài ra giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho học sinh thực hiện thường xuyên ở lớp, ở nhà ( có thể có ý kiến chúng ta đang thực hiện giảm tải...nhưng tôi nghĩ nếu học sinh đã hứng thú thì các em sẽ tự học thêm, càng giao nhiều học sinh càng thích) hoặc có thể đưa một nội dung lớn vào trong một đến hai tiết tự chọn.... Nhưng trên hết giáo viên phải biết tiết chế, tránh sa đà làm ảnh hưởng đến nội dung bài học. Đó là bản lĩnh của người giáo viên cần phải có. 
2 . Phạm vi áp dụng :
	Qua tìm hiểu	các trường trong huyện và tỉnh, tôi thấy đề tài này có thể áp dụng cho toàn huyện Phú Quốc và tỉnh Kiên Giang.
3.Kiến nghị :
 Từ những vấn đề đã trình bày , tôi xin kiến nghị lên các cấp trường, phòng và sở giáo dục hãy quan tâm hơn nữa đối với việc dạy và học từ Hán – Việt ít nhất cũng phải đề nghị các giáo viên dạy hoặc cho học sinh cấp PTCS học thuộc nghĩa của 220 từ ở cuối sách giáo khoa ngữ văn kì 2 các lớp 6,7,8,9 .
 Do trình độ chuyên môn còn hạn chế, do kinh nghiệm công tác còn ít, do là lần đầu viết sáng kiến kinh nghiệm ... nên kinh nghiệm, giải pháp của tôi còn rất nhiều sai sót. Kính mong thầy cô các cấp chỉ bảo, giúp đỡ để kinh nghiệm, giải pháp của tôi được hoàn thiện hơn, bản thân tôi được lĩnh hội những đóng góp, sửa chữa của các thầy cô để nâng cao trình độ tiếp tục theo đuổi sự nghiệp trồng người.
	 Cuối cùng, Tôi xin chân thành cảm ơn thầy cô các cấp đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành kinh nghiệm, giải pháp này. Xin chân thành cảm ơn!
 Bãi Thơm ngày 14/4/2012
 Người viết :
 TỐNG HOÀNG LINH .
E / TÀI LIỆU THAM KHẢO :
	Sách :
Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn , Từ điển tiếng Việt , NXB Văn hóa Sài Gòn, 2005 
Thiều Chửu, Từ điển Hán – Việt , NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2004. 
Trần Mai Nhân , Tiếng Việt thực hành, Trường ĐH Văn Hiến
Chu Xuân Diên, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB ĐHQG HCM, 2002.
Nguyễn Tri Tài - Giáo trình tiếng Hán cơ sở tập 1, NXB ĐHQG HCM, 2002.
Phan Ngọc Hiền, Giáo trình Hán – Nôm, Trường Đại học Văn Hiến
Đặng Quốc Bảo, Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, NXB GDVN, 2009
Thơ ca Hồ Chủ tịch, NXB GD Giải Phóng, 1974.
Phan Huy Đông, Đố tục, đố thanh, NXB Văn hóa dân tộc, 2002.
Lê Xuân Thại, Từ Hán – Việt và việc giảng dạy từ Hán – Việt, NXB GD, 2005
Đinh trọng Lạc, Phương tiện và biện pháp tu từ từ vưng, NXB GD, 2008
Nguyễn Ngọc San, Lý thuyết chữ Nôm văn Nôm, NXB ĐHSP, 2003.
v.v..
Tài liệu :
Đinh Hà Triều, Nâng cao khả năng học từ Hán – Việt 
Nguyễn Xuân Tư, Cần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt 
Trần Thị Thanh, Vài suy nghĩ về vấn đề trang bị từ Hán-Việt HS, SV 
Lê Kế Hòa, Tìm hiểu cấu trúc thành ngữ Hán – Việt.
Trường PTCS Bãi Thơm, Tài liệu bồi dưỡng về từ Hán – Việt năm 2009
Chử Anh Đào, Sử dụng từ Hán- Việt hiện nay.
PGS.TS Đoàn Lê Giang, Cần khôi phục việc dạy chữ Hán trong nhà trường.
Nguyễn Văn Duận, Dạy chữ Hán để biết và hiểu.
Nguyễn Đức Hùng, Đề xuất giải pháp đưa chữ Hán Nôm vào giảng dạy ở trường học.
 Lâm Uyên, Học sinh cần được học chữ Hán .
I.S. Lisevich , Tư tưởng văn học Trung Quốc cổ xưa.
12 . Hồ Thúy An - Giải mã một câu tục ngữ .
v.v..
F / MỤC LỤC :
	Trang 
 A / PHẦN MỞ ĐẦU:	 	 1
I. Cơ sở lý luận :	 1
II. Cơ sở thực tiễn :	 1
III . Phạm vi đề tài :	 3
 B / THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ :	 3
I.Thực trạng, tình hình :	 3
II.Những hạn chế, khó khăn :	 3
 C . GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ	 4
I/ TẠO HỨNG THÚ, TRUYỀN CẢM HỨNG TRONG 
VIỆC DẠY HỌC TỪ HÁN VIỆT :	 4
 1. Ý nghĩa từ những cái tên :	 4
 2. Đi tìm vẻ đẹp của từ Hán – Việt : 5
 2.1.Vẻ đẹp từ lối chiết tự, câu đố từ Hán – Việt : 5
 2.2.Cách sử dụng, lựa chọn từ : 8
 3. Kể chuyện : 11 
 II / MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TỪ HÁN – VIỆT : 13
 1. Lập sổ tay Hán – Việt : 13
 2. Dạy học qua thành ngữ Hán – Việt : 14
 3. Trò chơi : 15
 3.1.Ván bài lật ngửa 15
 3.2.Tìm từ cùng chủ đề : 15
 3.3.Nối cột 15
 4. Cung cấp tài liệu : 16
III / KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC : 	 20
 1 . Tóm lược giải pháp : 20
 2 . Phạm vi áp dụng : 20
 3 . Kiến nghị :	 20
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG THI ĐUA CẤP TRƯỜNG:
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG THI ĐUA CẤP PHÒNG:

File đính kèm:

  • docSKKN_day_tu_Han_Viet.doc
Sáng Kiến Liên Quan