Sáng kiến kinh nghiệm Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị - đồ dùng dạy học cho khối 3

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

1.Lý do chọn đề tài:

 Nước ta đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới, nên kinh tế cạnh tranh ngày càng khốc liệt cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghiệp tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin. Kinh tế thị trường là một trong những chủ trương lớn của Đảng và nhà nước, đây là một chủ trương phù hợp với thời kỳ đổi mới. Đấy chính là điều kiện hết sức thuận lợi cho kinh tế nước nhà phát triển, đồng thời là một tiền đề cho nền giáo dục phát triển. Song cũng là thách thức cho ngành giáo dục phải đào tạo ra một thế hệ trẻ có tri thức, đạo đức để đáp ứng với yêu cầu phục vụ sự nghiệp đổi mới của đất nước. Vai trò đặc biệt quan trọng của giáo dục được Đảng ta xác định tại Đại hội Đảng lần thứ IX “Phát triển giáo dục là một trong những động lực thúc đẩy, hoạt động là điều kiện để phát triển nguồn nhân lực, yếu tốc cơ bản để phát triển xã hội tăng trưởng nhanh và bền vững”.

 

docx21 trang | Chia sẻ: binhthang88 | Ngày: 23/11/2017 | Lượt xem: 1002 | Lượt tải: 22Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị - đồ dùng dạy học cho khối 3", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ả, qua thực tế giảng dạy của giáo viên, tôi nhận thấy cần phải khắc phục một số nhược điểm sau:
 Khi dạy bài “Thực hành xem đồng hồ” Tiết 120&121 trang 123-125 (SGK lớp 3)
*Đối với giáo viên cần:
-Chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học chu đáo, đầy đủ (từ 6 đến 8 mô hình đồng hồ).
-Cần thao tác trên mô hình đồng hồ thành thạo, chính xác.
-Hướng dẫn học sinh cách quay kim đồng hồ, theo đúng chiều quay của kim đồng hồ.
-Hiểu sâu về biểu tượng về “Thời điểm, khoảng thời gian”.
 (Ví dụ: Chương trình phim hoạt hình bắt đầu vào lúc 8 giờ và kết thức lúc 8 giờ 30 phút, vậy chương trình này kéo dài bao lâu? Giáo viên quay kim đồng hồ thời điểm bắt đầu từ lúc 8 giờ và dừng lại đúng 8 giờ 30 phút; học sinh trả lời, giáo viên chốt ý: Khoảng thời gian là từ khi bắt đầu một công việc đến khi kết thúc công việc đó).
*Đối với học sinh:
-Học sinh còn lúng túng khi thao tác trên mô hình đồng hồ. Vì vậy giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh thực hành nhiều trên mô hình đồng hồ, nhận xét cách quay kim đồng hồ, cách đọc giờ trên đồng hồ.
-Cần tổ chức cho học sinh tự nói về các khoảng thời gian thực hiện một công việc hằng ngày của mình, vừa nói vừa kết hợp quay kim đồng hồ.
(Ví dụ 1: Em tập thể fục lúc 6 giờ 5 phút, đến trường lúc 7 giờ kém 10 phút; 7 giờ em vào học và tan học lúc 11 giờ kém 20 phút)
Tóm lại: Qua các bước làm như vậy học sinh đã:
+Đọc thời điểm trên đồng hồ chính xác.
+Bước đầu hiểu được biểu tượng thời điểm, khoảng thời gian và thao tác thành thạo trên đồng hồ.
+Học sinh nêu được các hoạt động hằng ngày của bản thân, từ đó biết cách lập thời gian biểu một cách cụ thể trong học tập và sinh hoạt hằng ngày.
Bảng 4: Kết quả đạt được sau khi vận dụng giải pháp này như sau:
Lớp
Tổng số HS
Kết quả thao tác
Kết quả kiến thức
Sử dụng tốt
Sử dụng được
Sử dụng kém
Giỏi
Khá
TB
Yếu
3A1/33 HS
22 em = 66.7%
11 em = 33.3%
0%
20 em = 60.6%
11 em = 33.3%
2 em =
6.1%
0%
3A2/28 HS
18 em = 64.3%
10 em = 35.7%
0%
17 em = 60.7%
9 em = 32.2%
2 em = 7.1%
0%
 Bằng cách làm như vậy, giáo viên trong khối 3 đã tự tin khi sử dụng thiết bị này, đồng thời gây được hứng thú, hầu hết tất cả các đối tượng học sinh đều được tham gia một cách tích cực và chủ động, từ đó nâng cao được tần số sử dụng và đạt hiệu quả cao trong giờ dạy.
Ví dụ 2:Mô hình Trái Đất quay quanh Mặt Trời: Mô hình này dùng để dạy các bài từ “ Bài 60 đến bài 64 SGK TN&XH 3”. Đây là một mô hình rất cần thiết, nó giúp các em dễ tưởng tượng hơn, phù hợp với tâm lí lứa tuổi, kích thích được trí tò mò khám phá của học sinh. Học sinh tự tìm tòi và phát triển kiến thức thông qua mô hình.
 Để đảm bảo được tần số sử dụng cao hơn (sử dụng liên tục) thì mô hình này cần khắc phục một số hạn chế sau đây:
+ Do sử dụng bằng pin nên dễ hư hỏng hệ thống điện (pin chảy nước).
+ Tốn tiền và không chủ động trong quá trình sử dụng (đang sử dụng hết pin).
+ Tốc độ quay nhanh (học sinh khó quan sát và khó hình dung, khó phát hiện kiến thức mới).
 Từ những hạn chế nêu trên dẫn đến mô hình này có tần số sử dụng thấp vì giáo viên có tâm lí ngại sử dụng. Để khắc phục hạn chế này tôi đã tìm ra hướng cải tiến thiết bị này như sau:
+ Thay nguồn điện sử dụng pin bằng nguồn điện 220V, “ Bằng cách lắp một biến thế để dùng điện lưới sẵn có ”.
+ Giảm tốc độ quay bằng cách thay bánh răng lớn hơn.
 Từ việc cải tiến rất nhỏ này mà “ Mô hình Trái Đất quay quanh Mặt Trời ” đã được giáo viên sử dụng với tần số cao, mang lại hiệu quả cao trong giờ học. )
 Trên đây là một số vị số ví dụ cụ thể, mang tính đặc trưng, còn đối với tất cả các môn học khác tôi cũng thực hiện như vậy và đã giúp giáo viên nhà trường thành công trong mỗi giờ lên lớp.
 Bằng giải pháp này, giáo viên đã hoàn toàn chủ động trong việc chuẩn bị và sử dụng thiết bị – đồ dùng dạy học trong quá trình dạy và học một cách khoa học, chất lượng, mang lại hiệu quả cao trong mỗi tiết dạy.
* Biện pháp 5: Sử dụng đồ dùng dạy học trong tiết dạy đảm bảo tính khoa học và hợp lý.
 Qua thực tế giảng dạy của giáo viên tôi nhận thấy: Việc sử dụng đồ dùng dạy học hợp lí, hiệu quả sẽ mang lại chất lượng cao trong mỗi tiết dạy nên khi sử dụng cần chú ý:
+ Trình bày khoa học theo trình tự nội dung ( ví dụ: tranh 1, tranh 2, tranh 3, ) đặt, treo, để nơi học sinh dễ quan sát.
+ Từ khâu giới thiệu bài đến phát hiện kiến thức hay cất đồ dùng dạy học phải hợp lí. Lời giới thiệu nội dung hoặc câu hỏi gợi ý học sinh suy nghĩ về nội dung của giáo viên cần ăn khớp cùng thời điểm xuất hiện đồ dùng dạy học để nhận thức của học sinh thành mạch kiến thức liên tục, không bị gián đoạn.
+ Giáo viên cần chỉ vào những nội dung cần thiết để ở đồ dùng dạy học, để nhấn mạnh trọng tâm của bài, không chỉ giới thiệu chung chung bằng lời, để học sinh có cái nhìn bao quát, từ đó học sinh hiểu sâu, nhớ lâu được kiến thức mà giáo viên cần truyền đạt.
+ Sử dụng theo đúng quy trình bài học (treo, bày, đặt theo từng hoạt động của bài).
+ Hướng dẫn học sinh quan sát, tìm hiểu, khai thác đồ dùng dạy học thông qua hệ thống câu hỏi gợi mở của giáo viên để học sinh nắm bắt kiến thức mới.
+ Không đưa cùng một lúc nhiều đồ dùng ra giới thiệu, phân tích làm phân tán sự chú ý của học sinh.
 Tóm lại: Sử dụng đồ dùng dạy học trong tiết dạy đảm bảo tính khoa học hợp lý, đem lại hiệu quả cao trong giờ học mà trong thực tế giảng dạy của giáo viên đã thu được một số kết quả đáng khích lệ. ( Giáo viên sử dụng đồ dùng dạy hcọ thuần thục, gợi mở được kiến thức của bài dạy. Học sinh nắm bắt được kiến thức, hiểu và vận dụng tốt trong khâu thực hành ).
* Biện pháp 6: Nâng cao chất lượng, hiệu quả làm đồ dùng và cách sử dụng đồ dùng tự làm.
 Nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng thiết bị – đồ dùng dạy học, giáo viên nhà trường ngay từ đầu năm học đã dành nhiều thời gian bắt tay ngay vào tìm hiểu, thiết kế và làm được một số đồ dùng khác phù hợp với từng tiết học, bài học cụ thể. Nhiều giờ dạy được soạn giảng bằng giáo án điện tử với những hình ảnh rất sinh động. Điều đó góp phần không nhỏ trong việc đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay, tôi xây dựng cho giáo viên một kế hoạch “ Làm cho đồ dùng và sử dụng đồ dùng dạy học từ làm ” qua các quy trình sau:
a, Nâng cao chất lượng, hiệu quả làm đồ dùng:
Bước 1: Nghiên cứu bài dạy, xác định ý tưởng.
Bước 2: Xác định yêu cầu của đồ dùng.
+ Đồ dùng dạy học phải đạt một số yêu cầu cớ bản sau: 
 * Đồ dùng dạy học phải là một thành tố hữu cơ của bài dạy.
 * Đồ dùng dạy học phải thiết thực cho nội dung bài dạy ( Giới thiệu bài, hình thành kiến thức mới, củng cố bài ).
 * Đồ dùng dạy học phải đa dạng, phong phú ( nhưng màu không lòe loẹt, làm ảnh hưởng đến sự chú ý của học sinh về hình thức bên ngoài mà quên đi nhiệm vụ chính là từ đồ dùng trực quan rút ra nội dung, kiến thức từng tiết học, bài học ).
+ Chất liệu làm đồ dùng phải dễ tìm, tốn ít kinh phí.
+ Phát huy triệt để tác dụng của đồ dùng dạy học, dạy được nhiều bài, nhiều khối lớp.
Bước 3: Thực hiện làm đồ dùng:
 Đây là khâu rất quan trọng để có một sản phẩm mang tính khoa học, thẩm mĩ cần phải thực hiện theo các yêu cầu sau:
 + Tham khảo bạn bè, đồng nghiệp, chuyên môn nhà trường.
 + Tìm kiếm chất liệu, chuẩn bị dụng cụ làm đồ dùng.
 + Lên kế hoạch, thời gian thực hiện.
 + Trình diễn mẫu trước tổ khối để chỉnh sửa những vướng mắc trong khi thực hiện.
 Bằng những bước này, Ban giám hiệu sẽ có kế hoạch nâng cao chất lượng và hiệu quả trong quá trình làm đồ dùng của giáo viên.
b, Cách sử dụng đồ dùng dạy học tự làm:
 Trong quá trình giảng dạy, ngoài những đồ dùng thường xuyên trong tiết dạy đã được hội đồng nhà trường công nhận đạt hiệu quả cao khi sư dụng, trong đó bộ đồ dùng “ Phong cảnh vùng cao ” là bộ đồ dùng có tính chất xuyên suốt chương trình từ lớp 1 đến lớp 5 mà tôi cảm thấy tâm đắc nhất. Hiệu quả sử dụng của bộ đồ dùng này đêm lại kết quả cao trong tiết học. Vì mô hình “ Phong cảnh vùng cao ” có thể dạy được nhiều môn, nhiều khối lớp, bởi mô hình này có cấu tạo gồm nhiều mô hình nhỏ:
Nhà sàn, bản làng, cây cối, một số vật nuôi, thú.
Đồi núi, suối, nương rẫy, ruộng bậc thang. Các đồ vật của dân tộc ít người sống ở miền núi phái Bắc ( chày, ống đựng nước,... )
 + Phạm vi sử dụng: chủ yếu dạy môn tự nhiên & xã hội, môn tiếng Việt.
 + Cách sử dụng cụ thể minh họa như sau:
 Khối lớp 3:
Môn Tự nhiên & Xã hội
 Dạy bài 49: -Động vật
 Dạy bài 54: -Thú 
 Học sinh quan sát mô hình và nêu được một số động vật sống quanh ta, một số loài thứ sống trong rừng.
 Dạy bài 17: -Viết về thành thị và nông thôn.
 Học sinh quan sát mô hình, viết được một đoạn văn về phong cảnh vùng cao.
Phân môn Luyện từ và câu
 Dạy bài 34: - Mở rộng vốn từ về thiên nhiên.
 Học sinh quan sát mô hình, nêu được các từ ngữ về thiên nhiên.
* Biện pháp 7: Kết hợp với phụ huynh học sinh chuẩn bị chu đáo đồ dùng học tập cho học sinh.
 Khâu chuẩn bị đồ dùng dạy học của giáo viên vô cùng quan trọng nhưng về phía học sinh chuẩn bị đầy đủ đồ dùng học tập cũng không kém phần quan trọng. Vì vậy ngay từ đầu năm học Ban giám hiệu đã:
Tuyên truyền cho các bậc phụ huynh biết được vai trò quan trọng của đồ dùng dạy học trong việc thực hiện chương trình sách giáo khoa.
Động viên phụ huynh học sinh mua sắm đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập.
Thành lập ban nề nếp để kiểm tra đôn đốc, nhắc nhở học sinh chưa đầy đủ đồ dùng học tập.
Thường xuyên hướng dẫn học sinh sử dụng thiết bị – đồ dùng học tập để các em có thói quen sử dụng đồ dùng hàng ngày.
Thường xuyên kiểm ra, đôn đốc, khen ngợi học sinh sử dụng đồ dùng có hiệu quả, động viên, gần gũi, khích lệ học sinh còn lúng túng trong thao tác với đồ dùng dạy học.
 Với cách làm như vậy, ngay từ đầu năm học, các lớp đều có đầy đủ bộ đồ dùng học tập của học sinh, các em có hứng thú khi học tập và sử dụng.
* Biện pháp 8: Cấch bảo quản thiết bị – đồ dùng dạy học.
 Việc bảo quản thiết bị – đồ dùng dạy học là một khâu không kém phần quan trọng. Vì vậy, các đồng chí giáo viên sau mỗi lần sử dụng thiết bị – đồ dùng dạy học luôn luôn có ý thức bảo quản để thiết bị – đồ dùng dạy học được sử dụng trong nhiều năm. Muốn bảo quản tốt thiết – đồ dùng, giáo viên đã phân loại như sau, để có biện pháp bảo quản thích hợp:
+ Tranh ảnh, bản đồ, lược đồ, biểu bảng. ( Sử dụng xong cuộn tròn đưa vào túi bóng, cất nơi khô ráo theo trình tự bài học ).
+ Vật mẫu, băng hình ( Sử dụng xong lau sạch, đưa vào hộp, cất nơi khô thoáng ).
+ Đồ thí nghiệm, chai lọ, dụng cụ, ( Đậy nắp, lau sạch, xếp ngăn nắp vào tủ ).
 Bằng biện pháp đơn giản nhưng hiệu quả mà đồ dùng dạy học mỗi khi giáo viên sử dụng xong đều được bảo quản, giữ gìn cẩn thận, thuận tiện cho người sử dụng sau đó.
4. Kết quả thực hiện có so sánh đối chứng
 Qua một năm thực hiện các biện pháp trên, tôi nhận thấy:
Giáo viên đã học hỏi và rút ra được rất nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng thiết bị - đồ dùng dạy học, do đó nâng cao được hiệu quả sử dụng lên rất nhiều so với trước đây. Giáo viên không còn ngại chuẩn bị và sử dụng thiết bị - đồ dùng trong các tiết dạy học.
Những tiết học có sử dụng đồ dùng trực quan trở nên linh hoạt, nhẹ nhàng hơn.
Đối với học sinh: Chủ động sáng tạo, khám phá tìm tòi kiến thức mới, học sinh hoạt động một cách tích cực, hứng thú hơn trong giờ học.
Học sinh có cơ hội bày tỏ các suy nghĩ của mình và mạnh dạn phát biểu hơn trước tập thể.
Do đó tỉ lệ học sinh khá giỏi tăng nhanh theo từng giai đoạn của năm học.
 Cụ thể trong năm học 2016-2017, kết quả xếp loại học lực môn Toán-Tiếng Việt của lớp 3A1, 3A2 như sau:
Lớp / sĩ số
Các kỳ kiểm tra, khảo sát
Môn Toán
Môn Tiếng Việt
Giỏi
Khá
TB
Giỏi
Khá
TB
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
3A1/
33 HS
KS Đầu năm
12
36.4
10
30.3
11
33.3
10
30.3
16
48.5
7
21.2
Cuối kì I
15
45.5
12
36.4
6
18.1
12
36.4
19
57.5
2
6.1
Giữa kì II
23
69.7
6
18.2
4
12.1
14
42.4
17
51.5
2
6.1
3A2/
31 HS
KS Đầu năm
14
45.3
11
35.5
6
19.2
8
25.8
15
48.4
8
25.8
Cuối kì I
20
64.5
9
29.0
2
6.5
12
38.7
15
48.4
4
12.9
Giữa kì II
23
74.1
5
16.1
3
9.8
14
45.3
15
48.4
2
6.3
III. Kết luận và khuyến nghị
1.Kết luận
 Trong quá trình chỉ đạo giáo viên vận dụng các giải pháp “nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị – đồ dùng dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh khối lớp 3” trong năm học vừa qua tôi nhận thấy:
Việc sử dụng thiết bị – đồ dùng dạy học thường xuyên đem lại kết quả cao trong giờ học. Bởi thiết bị – đồ dùng dạy học vừa là phương tiện chuyển tải thông tin, vừa là nội dung của quá trình truyền tải kiến thức, kĩ năng thực hành cho học sinh. Do đó gió viên cần phải tự mình học hỏi, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyện môn. Trong đó kĩ năng khai thác, sử dụng và làm đồ dùng dạy học là một trong những khâu quyết định chất lượng giáo dục hiện nay.
 Khai thác, sử dụng thiết bị – đồ dùng dạy học có hiệu quả tạo được không khí sôi nổi trong giờ học, khắc phục được tình trạng “Dạy chay – Học chay” giúp cho người đọc phát triển tư duy, nhận thức theo hướng lôgic, đó là từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, đến thực tiễn.
 Nâng cao chất lượng làm đồ dùng dạy học giúp cho người giáo viên tự tin khi lên lớp, có thao tác thành thạo theo đúng quy trình và khai thác hết hiệu quả mà đồ dùng dạy học mang lại. Học sinh chủ động tiếp thu, lĩnh hội kiến thức, phát huy hết khả năng tư duy sáng tạo của học sinh.
2. Khuyến nghị
a, Đối với phòng giáo dục và đào tạo
Mở các chuyên đề hướng dẫn về cách sử dụng và bảo quản thiết bị – đồ dùng dạy học.
Cấp trang thiết bị, tranh ảnh về cho nhà trường.
b, Đối với ban giám hiệu
Tiếp tục chăm lo, quan tâm và tạo mọi điều kiện hỗ trợ đến các hoạt động trong nhà trường, đặc biệt là hoạt động sử dụng thiết bị – đồ dùng dạy học và làm đồ dùng dạy học của giáo viên và học sinh.
Động viên khuyến khích giáo viên tích cực tham gia làm đồ dùng dạy học có chất lượng cao.
Kiểm tra đôn đốc việc sử dụng thiết bị – đồ dùng dạy học của giáo viên.
c, Đối với giáo viên
Cần coi trọng việc sử dụng thiết bị dạy học và xem đây là việc làm cần thiết.
Cần có quan niệm đúng đắn về việc sử dụng thiết bị – đồ dùng dạy học.
Luôn luôn tăng cường bồi dưỡng, nâng cao trình độ và kĩ năng khai thác, sử dụng thiết bị – đồ dùng dạy học, biết phối hợp và linh hoạt lựa chọn trang thiết bị truyền thống hay hiện đại để vừa tiết kiệm được thời gian, công sức vừa đạt hiệu quả cao.
Biết cách sử dụng thiết bị – đồ dùng đúng lúc, đúng chỗ và không lạm dụng.
Tích cực hưởng ứng và nâng cao chất lượng làm đồ dùng dạy học.
Cần phối hợp chặt chẽ với phụ huynh học sinh, động viên tuyên truyền để họ tạo điều kiện về tinh thần, mua sắm đầy đủ trang thiết bị đồ dùng học tập cho con em mình.
Khuyến khích nhắc nhở học sinh biết cách sử dụng và bảo quản các đồ dùng học tập.
 Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm của tôi, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Hội đồng khoa học các cấp bổ sung cho bản sáng kiến kinh nghiệm của tôi thêm hoàn chỉnh.
 Tôi xin chân thành cảm ơn.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊHà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2017
. Tôi xin cam đoan đây là sáng 
. kiến kinh nghiệm của do mình
. tự viết, không sao chép của 
..... người khác.
.Người viết
.
Nguyễn Thị Hồng Tuyết
Nhận xét của hội đồng khoa học cấp cơ sở
..............................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................Chủ tịch hội đồng
Nhận xét của hội đồng khoa học cấp huyện
Chủ tịch hội đồng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ sách giáo khoa khối 3.
Bộ sách hướng dẫn của giáo viên khối 3.
Bộ sách hướng dẫn thống kê, quản lí thư mục đồ dùng
MỤC LỤC
Mục lục
Trang
I.Đặt vấn đế
1 - 4
1.Lý do chọn đề tài
1 - 3
2.Mục đích nghiên cứu
 3
3.Đối tượng nghiên cứu
 3
4.Khảo sát thực tế
 4
5.Phạm vi chọn đề tài
 4
II.Giải quyết vấn đề
4 - 16
1.Tên đề tài
 4
2.Tên các biện pháp
 4
3.Tác dụng của từng biện pháp
5 - 15
* Biện pháp 1: Thống kê, phân loại, lập danh mục thiết bị được cấp ở khối 3, xây dựng kế hoạch sử dụng.
5 - 7
* Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch thực hành luyện tập cách sử dụng đối với những thiết bị khó sử dụng hoặc sử dụng có tần số thấp.
 7
* Biện pháp 3: Chuẩn bị đồ dùng dạy học nâng cao hiệu quả giờ lên lớp.
 8
* Biện pháp 4: Cách khắc phục, cải tiến những thiết bị – đồ dùng khó sử dụng hoặc sử dụng có tần số thấp.
8 - 11
* Biện pháp 5: Sử dụng đồ dùng dạy học trong tiết dạy đảm bảo tính khoa học và hợp lý.
11-12
* Biện pháp 6: Nâng cao chất lượng, hiệu quả làm đồ dùng và cách sử dụng đồ dùng tự làm.
12-14
* Biện pháp 7: Kết hợp với phụ huynh học sinh chuẩn bị chu đáo đồ dùng học tập cho học sinh.
14-15
* Biện pháp 8: Cách bảo quản thiết bị – đồ dùng dạy học.
 15
4.Kết quả thực nghiệm có so sánh đối chứng
15-16
III.Kết luận và khuyến nghị
16-17
1.Kết luận
16-17
2.Khuyến nghị
 17

File đính kèm:

  • docxsang_kien.docx
Sáng Kiến Liên Quan