Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp quản lý của Hiệu trưởng về đổi mới Phương pháp dạy học, tại trường THCS Phan Bội Châu - Krông Buk- Đăk Lăk, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

Thế kỷ XXI, thế kỷ của sự bùng nổ kỳ diệu về trí tuệ của loài người trong đó giáo dục (GD) đóng một vai trò đặc biệt quan trọng về chiến lược phát triển của mỗi quốc gia. Việt Nam, thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới (WTO), vấn đề đặt ra với ngành Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) là cần phải đổi mới chiến lược đào tạo con người, đặc biệt cần đổi mới phương pháp dạy học (PPDH), nhằm trang bị cho thế hệ trẻ về trình độ học vấn, về nhân cách theo hướng đào tạo nguồn nhân lực năng động, sáng tạo, để thích ứng với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ đồng thời tham gia tích cực vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH-HĐH) đất nước.

 Luật giáo dục 2005, điều 28.2 đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục (PPGD) phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp (PP) tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.

Năm học 2009 – 2010 với chủ đề “ Đổi mới công tác quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục” đã nhận được sự đồng thuận cao của ngành GD các địa phương. Tuy nhiên, trong báo cáo tổng kết năm học 2009-2010, lãnh đạo Bộ GD&ĐT cũng nhận định, thực trạng chất lượng giáo dục nhìn chung còn thấp, quản lý giáo dục còn nhiều bất cập, trong đó có việc phân cấp chưa hợp lý về quản lý giữa bộ với các ngành, địa phương, cả về quản lý tài chính. Đặc biệt, vẫn còn phổ biến tình trạng dạy theo kiểu “đọc - chép”.

Mặc dầu đã có nhiều cố gắng, nhưng đến nay sự chuyển biến về PPDH ở các trường trung học cơ sở (THCS) ở huyện Krông Buk nói chung và trường THCS Phan Bội Châu nói riêng vẫn còn rất chậm chạp, phổ biến vẫn là cách dạy truyền thụ một chiều phối hợp với giảng giải xen kẽ vấn đáp. Học sinh vẫn đang là những thực thể thụ động, nghe, ghi nhớ, và tái hiện.

Có nhiều nguyên nhân làm hạn chế quá trình đổi mới PPDH, song chúng tôi cho rằng nguyên nhân chính không phải do đội ngũ giáo viên chưa nhận thức đúng về vấn đề này, bởi vì khi tiếp cận với đội ngũ giáo viên có thể thấy đa số họ đều tâm huyết, mong muốn đổi mới, nhưng lại lúng túng không biết nên đổi mới cái gì?

 đổi mới như thế nào? và bắt đầu từ đâu?

Xét về góc độ quản lý, thấy rằng Hiệu trưởng phần lớn mới dừng lại ở chủ trương mà còn thiếu những biện pháp cụ thể để tác động và liên kết giữa người dạy với người học; Chưa tạo được động lực của việc ĐMPPDH; Chưa lựa chọn những nội dung đổi mới thiết thực và có trọng tâm; Chưa tổ chức quá trình đổi mới một cách khoa học và hữu hiệu.

 

doc38 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 07/08/2015 | Lượt xem: 1903 | Lượt tải: 34Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp quản lý của Hiệu trưởng về đổi mới Phương pháp dạy học, tại trường THCS Phan Bội Châu - Krông Buk- Đăk Lăk, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ghiên cứu để giải quyết vấn đề. Đó là sự cộng tác cùng nhau, hoạt động cùng nhau của thầy và trò.
- Chỉ đạo thực hiện các nội dung đổi mới khác:
+ Đổi mới viêc dự giờ: Ngoài việc qui định số tiết cần dự trong từng học kỳ, năm học, việc tổ chức dự giờ cần có mục đích, yêu cầu rõ ràng về nội dung và phương pháp. Tăng cường dự giờ đột xuất, dự giờ theo chuyên đề, đánh giá rút kinh nghiệm.
 	+ Đổi mới việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh: tổ chức học tập, chỉ đạo, kiểm tra thực hiện qui chế kiểm tra, cho điểm, xếp loạiThành lập ngân hàng đề, tổ chức thi nghiêm túc theo đề chung. Tổ chức cho giáo viên học tập đổi mới cách kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh đảm bảo yêu cầu.
+ Đổi mới hình thức kiểm tra : 
Khuyến khích giáo viên sử dụng nhiều hình thức kiểm tra khác nhau: trắc nghiệm khách quan; Tự luận; Trắc nghiệm kết hợp với tự luận... 
+ Đổi mới khâu chấm chữa bài, đánh giá chất lượng học sinh: 
Giáo viên hướng dẫn cho học sinh phát triển kỹ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học. Trong kiểm tra hàng ngày, giáo viên cần tạo điều kiện để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau. Trong các đợt kiểm tra học kỳ, kiểm tra chất lượng nhà trường nên tổ chức chấm chung một cách nghiêm túc, đảm bảo tính chính xác khách quan.
+ Bồi dưỡng, rèn luyện các kỹ năng soạn bài theo hướng thiết kế hệ thống 
câu hỏi, hệ thống thao tác thực hành, tổ chức thảo luậncho học sinh theo đặc điểm của từng môn học.
+ Bồi dưỡng, rèn luyện các kỹ năng dạy học trên lớp: Kỹ năng tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động, kỹ năng tạo tình huống có vấn đề, kỹ năng thực hành, thí nghiệm, kỹ năng ra đề kiểm tra theo kiểu trắc nghiệm..
+ Bồi dưỡng, rèn luyện kỹ năng chung mang tính công cụ: Sử dụng phương tiện kiểm tra hiện đại, sử dụng phần mềm hỗ trợ, khai thác thông tin, đọc sách, nghiên cứu tài liệu tham khảo
+ Bồi dưỡng cho giáo viên PP tự học, tự nghiên cứu, tự làm đồ dùng dạy học 
6. Biện pháp quản lý các hoạt động học tập của học sinh
6.1. Mục tiêu của biện pháp: 
Tăng cường giáo dục động cơ, thái độ học tập, bồi dưỡng PP tự học, rèn luyện các kỹ năng tự học nhằm nâng cao chất lượng hoạt động học tập của học sinh.
6.2. Nội dung và cách thực hiện: 
- Tổ chức HS học tập ở lớp: 
+ GVCN kết hợp với GV bộ môn ổn định và duy trì nền nếp học tập: Mỗi HS phải có đủ sách, vở, đồ dùng học tập; HS được phân nhóm cố định ( Nhóm nửa lớp, nhóm 2, nhóm 4, nhóm 8). Trong giảng dạy tùy theo môn học, bài học để GV bộ môn chỉ đạo HS hoạt động theo nhóm cho phù hợp. Việc trao đổi, tranh luận , giúp đỡ nhau theo nhóm học tập, HS sẽ vượt qua những khó khăn, làm nảy nở các sáng kiến, phát triển lòng yêu thích học tập và củng cố niềm tin cho các em. 
 + Đầu mỗi năm học, tổ chức HS học nội qui trường, lớp; Đầu tiết 1 PPCT, HS được làm quen với GV bộ môn, được GV bộ môn hướng dẫn về phương pháp học tập, cách ghi chép và 1 số qui định riêng theo từng môn học (Đặc biệt là HS lớp 6, lớp đầu cấp); Thống nhất trong toàn trường ngay từ giờ học thứ hai trong phân phối chương trình của môn học giáo viên phải thực hiện đều đặn các hình thức kiểm tra bài cũ, trong đó có chấm điểm vở ghi chép, vở làm bài tập. 
- Xây dựng đội ngũ giáo viên về việc bồi dưỡng PP tự học, rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh thông qua việc thiết kế bài dạy và cách thức tổ chức cho học sinh hoạt động trong giờ học.Thiết kế nội dung bài học thành chuỗi các tình huống có vấn đề ở các môn học (đảm bảo tính vừa sức) để hàng ngày học sinh có thể giải quyết. Hình thành PP tự học ngay trên lớp, như tạo điều kiện cho học sinh bộc lộ tư duy, khả năng diễn đạt, rèn luyện kỹ năng phân tích, tổng hợp, khái quát, trừu tượngTừ đó tạo cho học sinh PP tự nghiên cứu, tự đọc sách và tài liệu
- Tổ chức học sinh tự học ở nhà: . Ở lứa tuổi THCS, HS chưa có được khả năng để tổ chức tự học mà chỉ tự học khi được giao các bài tập, nhiệm vụ học tập. Do đó, GV bộ môn cần thường xuyên giao nhiệm vụ học tập cho HS và có biện pháp kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ học tập. Các nhiệm vụ học tập phù hợp cho các em là: trả lời câu hỏi theo nội dung bài học, làm bài tập trong sách giáo khoa, vận dụng kiến thức đã học để giải thích một số hiện tượng trong đời sống, xây dựng các bài toán từ những dữ kiện cho trước,... Nhiệm vụ học tập phải đa dạng, có độ phức tạp và khó khăn tăng dần. Bên cạnh đó, GV cần phải dạy cho HS phương pháp để học tập có hiệu quả như biết phân đoạn theo ý nghĩa, lập dàn bài để ôn tập và ghi nhớ, hay dạy các dạng bài tổng quát, sau đó đặt ra các trường hợp cụ thể để HS tự giải. 
GVCN Hướng dẫn học sinh lập thời gian biểu, nội dung học tập tương ứng hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng. Tăng cường giáo dục động cơ, thái độ học tập đúng cho học sinh. Giáo viên chủ nhiệm phải phối hợp với giáo viên bộ môn, cha mẹ học sinh nhằm hướng dẫn, kiểm tra, uốn nắn hoạt động tự học của HS . 
- Thực hiện mô hình “1-1” : Mỗi GVG nhận giúp đỡ 1 HS kém; Mỗi HS khá, Giỏi nhận giúp đỡ 1 HS yếu về phương pháp học tập, nhằm đạt kết cao hơn 
7. Biện pháp về Phối hợp chặt chẽ hoạt động của Hội cha mẹ, PH học sinh và các lực lượng giáo dục khác
7.1. Mục tiêu biện pháp:
 	Phát huy sức mạnh tổng hợp của Hội cha mẹ học sinh và các lực lượng giáo dục khác để thống nhất mục đich, PPGD.
7.2. Nội dung và cách thực hiện:
 Ban đại diện cha mẹ học sinh là tổ chức quần chúng của các gia đình học sinh. Đây là tổ chức có quan hệ mật thiết với nhà trường, có tiềm năng lớn trong việc giáo dục HS vì 2/3 thời gian HS ở với gia đình. Là cầu nối các gia đình học sinh lại với nhau để thống nhất mục tiêu giáo dục.
    	 Ban đại diện CMHS hoạt động tích cực trong nhà trường cũng góp phần nâng chất lượng giáo dục trong nhà trường. Nhà trường luôn xây dựng mối quan hệ gần gũi với mỗi gia đình học sinh; 
Thông qua Ban đại diện CMHS , làm cho cha mẹ học sinh hiểu rõ về vai trò GD – ĐT trong giai đoạn hiện nay, truyền đạt đến họ yêu cầu cơ bản về đổi mới PPDH, đặc biệt đổi mới PP học tập của học sinh để phụ huynh có biện pháp giáo 
dục, giúp đõ học sinh học tập, rèn luyện.
- Xây dựng nề nếp phối hợp giữa BGH với Ban đại diện cha mẹ cấp trường:
+ Đầu năm học được Hiệu trưởng hướng dẫn tổ chức Đại Hội đại biểu Phụ huynh HS ( Mỗi chi hội các lớp cử 3 đại biểu) để đánh giá công tác của hội cha mẹ năm học trước đồng thời cho PH tham gia ý kiến trong việc xây dựng kế hoạch nhiệm vụ về XHHGD theo hướng ĐMPPDH;
 	+ Tổ chức họp định kỳ để thông báo tình hình nhà trường, học sinh, đồng thời nắm tình hình học tập rèn luyện của học sinh tại gia đình và cộng đồng. Thống 
nhất nhiệm vụ, nội dung và biện pháp giáo dục giữa gia đình và nhà trường.
+ Tổ chức các hội nghị trao đổi kinh nghiệm, tư vấn về việc mua sắm tài liệu tham khảo & các phương tiện phục vụ học tập cho HS, tư vấn PP dạy con tự học, PPGD đạo đức cho HS, trang bị cho phụ huynh một số kiến thức về GD gia đình. 
+ Tổ chức cho cha mẹ HS báo cáo điển hình về PP giúp con học tập tốt.
	- Xây dựng nề nếp phối hợp giữa GVCN với hội cha mẹ các lớp:
+ Họp PHHS đầu năm học: Để thống nhất chương trình hoạt động của Hội cha mẹ học sinh và GVCN thông báo với PHHS những qui định đối với học sinh 
+ Họp PHHS cuối HKI: Thông báo KQ học tập rèn luyện của HS trong HKI và yêu cầu đối với HS trong KH II; Trao đổi với PHHS những vấn đề nảy sinh;
+ Họp PHHS cuối năm học: Báo cáo kết quả năm học và hoạt động trong hè
8. Biện pháp về đảm bảo các điều kiện thiết yếu về CSVC, TBDH và kinh phí cho việc đổi mới PPDH
8.1. Mục tiêu biện pháp:
 	Tăng cường hiệu quả của CSVC – TBDH trong việc đổi mới PPDH. Huy động được trí tuệ và công sức của GV và HS, của các lực lượng khác trong việc tạo ra nguồn tài lực, vật lực cho dạy học nói chung và đồ dùng dạy học nói riêng.
8.2. Nội dung và cách thực hiện:
- Xây dựng kế hoạch về tài chính, kế hoạch bổ sung và sử dụng hệ thống CSVC -TBDH phục vụ cho việc đổi mới PPDH và nâng cao chất lượng dạy học, có kế hoạch để tạo ra nguồn kinh phí cho hoạt động ĐMPPDH, từng bước hoàn 
thiện hệ thống CSVC -TBDH theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá.
+ Đảm bảo từng bước một hoàn thiện CSVC đồng bộ, tạo cảnh quan, môi 
trường sư phạm, có sân chơi, bãi tập, vườn thực hành
+ Trang bị đủ SGK, tài liệu tham khảo, tạp chí chuyên ngành cho thư viện 
- Tổ chức chỉ đạo sử dụng có hiệu quả CSVC - TBDH hiện có và tự làm đồ dùng dạy học.
- Thực hiện tốt chế độ kiểm tra định kỳ, đột xuất để ngăn chặn tình trạng “dạy 
chay” không sử dụng TBDH.
9. Biện pháp về Quản lý chỉ đạo công tác thi đua, khen thưởng, 
9.1. Mục tiêu biện pháp:
 	Động viên tinh thần và vật chất nhằm giúp mỗi cá nhân tích cực sáng tạo trong việc thực hiện nhiệm vụ ĐMPPDH
9.2. Nội dung và cách thực hiện:
- Xây dựng kế hoạch về công tác thi đua, khen thưởng và kỷ luật
- Đầu mỗi năm học, tổ chức CBGV-NV đăng ký phấn đấu danh hiệu thi đua, xuất phát từ ý thức tự giác của mỗi cá nhân;
- Nhà trường đặt ra các yêu cầu và chế độ khen thưởng để giáo viên phấn đấu. 
- Xây dựng tiêu chuẩn thi đua và tiến hành bình xét, phân loại CBGV-NV hàng tháng, nội dung chủ yếu trong thi đua tháng là : Phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống; Năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ; Công tác hoạt động XH và hoạt động phong trào;
- Sau mỗi tháng, Hội đồng thi đua tiến hành bình xét, xếp loại CBVG-NV 
- Kết thúc mỗi học kỳ, năm học, căn cứ kết quả thi đua các phong trào, các hội thi của GV cũng như HS Hội đồng thi đua nhà trường tiến hành bình xét các danh hiệu thi đua theo quy định của Nhà nước để gửi lên cấp trên khen thưởng đồng thời tổ chức khen thưởng và tôn vinh các thành tích cá nhân cũng như tập thể vào dịp 20/11 và dịp 19/5 hàng năm tại đơn vị. 
2. So sánh kết quả vận dụng các biện pháp:
 Thời gian so sánh
Đối tượng so sánh
Những năm khi chưa áp dụng
Năm học 2009-2010 & HK I (2010-2011) khi đã áp dụng
Tổ CM
- Các tổ trưởng làm việc theo cảm tính, Không chủ động kế hoạch chỉ đạo; sinh hoạt chuyên môn qua loa đại khái, không chỉ đạo được GV trong công tác ĐMPPDH; 
- Các chuyên đề chỉ dạy và góp ý như là 1 tiết dạy thao giảng 
- Các tổ trưởng chủ động lập kế hoạch phù hợp với chuyên môn và điều kiện từng tổ; Các tổ sinh hoạt có nề nếp, có chất lượng; Thực sự chú trọng chỉ đạo về ĐMPPDH
- Các tổ mở chuyên đề về ĐMPPDH có chất lượng và biết rút KN đi đến thống nhất 
CBGV- NV
- Ít quan tâm đến các văn bản, các cuộc vận động; Phần lớn không hiểu nội dung phong trào thi đua “THTT-HSTC” cũng như chủ đề các năm học; 
- Phần lớn GV lúng túng về khâu soạn bài theo hướng phát huy tính độc lập, chủ động của học sinh
- GV không biết lập KH cá nhân, họ cho rằng KH không cần thiết và do đó họ luôn đối phó vào hồ sơ
- SH tổ chuyên môn thiếu nề nếp, thiếu trách nhiệm, mạnh ai nấy lo, không tháo gỡ được khó khăn cho mỗi cá nhân
- Nhiều GV lo lắng, mơ hồ về đổi mới phương pháp dạy học, coi đó như là 1 phong trào; 
- GV thiếu tin tưởng, ngại áp dụng PP mới vào dạy học, không có động lực phấn đấu về chất lượng bộ môn, được chăng hay chớ; Coi đó là nhiệm vụ của BGH, của người khác
- Phần lớn GV thường lạ lẫm và coi máy vi tính cũng như máy chiếu là một loại máy móc quá cao siêu (Đặc biệt đối với GV không phải các môn tự nhiên)
- Mỗi cá nhân làm việc chỉ qua ngày để nhận lương
- Các hoạt động chuyên môn cũng như hoạt động XH trì trệ, trầm lắng
- Các tập thể tổ, đoàn thể thực hiện nhiệm vụ một cách đối phó, qua chuyện
- CBGV không có động cơ phấn đấu vươn lên, hàng năm không có tổ đăng ký tập thể LĐTT
- CBGV-NV thường phàn nàn vì khó khăn về đời sống 
- Mỗi CB,GV có nhu cầu và đề nghị BGH cung cấp tài liệu, thông tin, ngoài ra họ tự tìm tòi, nghiên cứu văn bản, tài liệu để vận dụng vào công tác 
- Đa số GV đã có kỷ năng về soạn GA theo hướng ĐMPPDH, vừa đảm bảo tính khoa học vừa phù hợp với năng lực HS
- Mỗi CBGV-NV đều thành thạo trong việc lập KH &KH trở thành công cụ thiết yếu của mỗi cá nhân 
- Việc SH chuyên môn có nề nếp là điều cần thiết giúp họ hoàn thành công việc có hiệu quả, có khoa học; 
- ĐMPPDH không còn là phong trào nữa mà là việc làm bình thường của mỗi CBGV; 
- Mỗi GV đã vận dụng vững vàng phương pháp mới vào dạy học, phấn đấu nâng cao chất lượng dạy học; GV nhận thức được về vai trò, nhiệm vụ của bản thân trong việc ĐMPPDH
- Mỗi CBGV, NV đã sử dụng được các trang thiết bị như máy vi tính, máy chiếu vào dạy học, đã góp phần ĐMPPDH, nâng cao chất lượng 
- Mỗi cá nhân tích cực phấn đấu theo Barem thi đua
Thi đua - khen thưởng vừa có tác dụng kích thích mọi người về tinh thần thái độ lao động, học tập nghiêm túc, có hiệu quả; vừa có tác dụng nâng cao mức sống, giải quyết được nhu cầu vật chất của giáo viên
- Năm học 2009-2010 có 3 tổ đạt tổ TT ; Liên Đội VM; Chi đoàn VM; Công Đoàn VM; Đơn vị VHXS; Chi bộ TSVM
- Nhiều đ/c được thưởng tăng thu nhập từ NS tương đối cao
Đoàn thể
- Xem các nội dung công việc là của BGH hoặc của ai đó không phải là trách nhiệm của mình, họ làm việc không theo kế hoạch của nhà trường
- Các đoàn thể thường lấy nhiệm vụ và kết quả của bất kỳ ai để đưa vào kế hoạch cũng như báo cáo tổng kết đánh giá hoạt động của mình
- Mỗi tổ chức đoàn thể, xác định được vai trò, nhiệm vụ của mình từ đó họ có kế hoạch thực hiện phối hợp chu đáo, có hiệu quả
- Các tổ chức đoàn thể thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của mình, đánh giá đúng thực chất, đúng đối tượng
Học sinh
- Chờ thầy cô đọc để chép, ít động não, tư duy
- Học thuộc lòng, học vẹt, ghi nhớ, vận dụng kiến thức máy móc
- Độc lập suy nghĩ để giải quyết vấn đề
- HS không dám đánh giá KQ bài làm của bạn và của bản thân
- Học sinh chưa xác định được thái độ, động cơ học tập
- HS biết kết hợp “Mắt nhìn- Tai nghe- Tay viết- Óc suy nghĩ”
- Học sinh ghi nhớ kiến thức bằng suy luận, bằng công thức...có tính bền vững
- HS biết hợp tác với nhau qua hoạt động nhóm
- HS biết tự chấm điểm của bạn, của mình
- HS xác định được động cơ học tập và có thái độ đúng đắn hơn trong học tập, rèn luyện
Phụ Huynh
- PH lo lắng việc Hướng dẫn con em học ở nhà; Bố mẹ bị con lừa dối...
- PH thường khoán trắng việc học của HS cho nhà trường, đỗ lỗi cho nhà trường...
- PH biết PP hướng dẫn con em tự học, biết cách KT, quản lý chương trình học tập của HS
- PH đã biết phối hợp với nhà trường và nhận phần trách nhiệm của GĐ đối với việc học của HS
Hội cha mẹ
- Hội CM Chỉ tổ chức đại hội, ý kiến là cãi cọ, chống đối với nhà trường về các khoản đóng góp; Họ nghỉ rằng XHHGD chỉ là đóng nộp
- Họ tham gia có thể để xin xỏ cho con lên lớp, tốt nghiệp
- Hội CM chủ động xây dựng kế hoạch về công tác XHHGD, nhiệm vụ chủ yếu của họ là hỗ trợ nhà trường về TTBDH và phối hợp với nhà trường về biện pháp GD toàn diện HS
- Hội CM đã gương mẫu thực hiện “2 không với 4 nội dung”
C. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Qua nghiên cứu đề tài tôi rút ra một số kết luận chung sau:
Đổi mới quản lý giáo dục không chỉ đổi mới cách làm việc của ban giám hiệu mà còn đổi mới từ giáo viên chủ nhiệm, giáo viên quản lý tổ chuyên môn và cả từng giáo viên bộ môn. Quản lý giáo dục không phải quản lý con người mà quan trọng là quản lý công việc, quản lý kế hoạch và chiến lược. Chỉ có quản lý công việc thì làm việc mới tự giác và có hiệu quả thật sự, còn quản lý con người thì làm việc chỉ với mục đích đối phó. Hiệu trưởng phải là người vừa nắm bắt thông tin vừa kiểm soát thông tin và biết cách xử lý thông tin hợp tình hợp lý. Ngoài giải quyết các công việc chung, hiệu trưởng có thể sẵn lòng giúp đỡ đồng nghiệp nếu có điều kiện. Tuy chỉ là những “động tác” nhỏ nhưng sẽ thu phục được quần chúng. Việc nắm bắt và xử lý thông tin cũng phải khách quan, độ lượng. Tính sáng tạo của hiệu trưởng, được thể hiện qua vai trò lãnh đạo, hoạch định về chiến lược, tầm nhìn sứ mệnh của nhà trường. Người lãnh đạo không chỉ làm đúng, làm tròn kế hoạch mà cần có chiến lược và sáng tạo riêng. Phải có tham vọng khai mở tiềm thức con người chứ không chỉ bằng lòng với những gì mình đã làm hoặc đã có. 
Một giáo viên phải giúp học sinh khai mở tri thức như vậy mới là người thầy thực thụ. Học sinh có thái độ động cơ học tập đúng đắn khi các em trả lời được câu hỏi: Học để làm gì? Giáo viên gắn bó với nghề không chỉ vì nhu cầu đồng lương mà còn vì nhu cầu giao tiếp, nhu cầu học tập và nhu cầu tự khẳng định mình; 
Giáo viên chủ nhiệm là người thay thế Hiệu trưởng quản lý toàn diện tập thể học sinh một lớp học. Người hiệu trưởng không thể quản lý, nắm chắc diễn biến của quá trình phát triển nhân cách từng học sinh trong một trường;
Tổ chuyên môn vừa là môi trường học tập, giao tiếp vừa là tổ ấm để mọi người thân thiện và gắn bó với nhau hơn. 
Gia đình là nguồn động viên tinh thần quý giá, là nơi kiểm tra, quản lý sát sao và cũng là nơi cung cấp phương tiện học tập cho các em. 
Do đó, không chỉ mỗi CBGV là một nhà giáo dục mà cả phụ huynh, nhân viên trong trường cũng phải là nhà giáo dục. Khi các nhà giáo dục có trách nhiệm tương quan lẫn nhau thì trách nhiệm đó sẽ có tác động tốt đến từng HS. Người lớn không có văn hóa (nhất là các bậc cha mẹ học sinh) thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến trẻ nhỏ và con cháu của mình. Người lãnh đạo tìm ra cơ chế quản lý để phát huy mọi khả năng của từng cá nhân, các bộ phận. Tuy nhiên làm việc gì cũng phải có trách nhiệm, có tấm lòng để “Giữ cái tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến”.
Trong 9 biện pháp thì mỗi biện pháp vừa là tiền đề, vừa là hệ quả của các biện pháp còn lại. Do đó trong công tác quản lý của Hiệu trưởng về ĐMPPDH, tôi đã thực hiện đầy đủ, hài hoà cả 9 biện pháp đã nêu.
Mặc dù chưa thật sự khởi sắc đối với đơn vị, nhưng đã có những dấu hiệu đáng mừng về sự chuyển biến tích cực từ đội ngũ, từ học sinh , phụ huynh...trong công tác thực hiện các biện pháp quản lý của hiệu trưởng về Đổi mới ĐMPPDH tại trường THCS Phan Bội Châu. Tùy thuộc vào cách quản lý của mỗi hiệu trưởng, với các biện pháp trong đề tài, tôi hy vọng đề tài không chỉ góp phần áp dụng vào việc ĐMPPDH trường THCS Phan Bội Châu nói riêng mà có thể áp dụng được cho tất cả các trường THCS nói chung. Rất mong được sự góp ý của các đồng nghiệp.
2. Kiến nghị:
- Đối với phòng GD& ĐT Krông Buk
+ Kịp thời trang bị, thay thế các thiết bị hư hỏng cho các đơn vị hàng năm; 
+ Đầu tư về CSVC, giúp nhà trường đạt chuẩn quốc gia vào năm 2011
- Đối với UBND huyện Krông Buk.
+ Quan tâm đầu tư xây dựng CSVC cho các trường học;
+ Đầu tư kinh phí hỗ trợ hoạt động chuyên môn, thực hiện ĐMPPDH
- Đối với UBND xã Chư Kbô.
+ Xây dựng kế hoạch chỉ đạo thực hiện công tác ANTT trường học;
+ Quản lý tốt các điểm vui chơi, giải trí, đặc biệt là quán Internet, Bi-a;
 Trên đây là : “Biện pháp quản lý của Hiệu trưởng về đổi mới Phương pháp dạy học, tại trường THCS Phan Bội Châu – Huyện Krông Buk- Tỉnh Đăk Lăk, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục”.
Do khả năng của bản thân và thời gian hạn chế nên đề tài còn nhiều thiếu sót. Kính mong được sự góp ý, điều chỉnh của ban giám khảo, của các cấp lãnh đạo để đề tài được hoàn thiện hơn.
 NGƯỜI VIẾT
 Lê Thị Huệ
 TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chỉ thị số 40 – CT/TƯ “ Xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản giáo dục” của Ban bí thư TW Đảng ( 2004), 
2. Nghị quyết IV của BCH TW Đảng khóa II về tiếp tục ĐM sự nghiệp GD&ĐT
3. Đảng Cộng sản Việt nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 của BCH TW khoá VIII.
4. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB chính trị quốc gia,2006
5. Nhiệm vụ năm học 2010 – 2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ( 2010); 
6. Điều lệ trường trung học cơ sở của Bộ Giáo dục và Đào tạo(2007); 
7. Dự thảo chiến lược phát triển GD&ĐT đến năm 2020 của Bộ GD&ĐT
8. Hồ Chí Minh, Về vấn đề Giáo dục.
9. Luật giáo dục – Nhà xuất bản chính trị quốc gia,2005, 
10. Giáo trình quản lý GD & ĐT – Học phần I; II; III của học viện QLGD - 2009
11. Những khái niệm cơ bản về lý luận QL GD của Nguyễn Ngọc Quang, 
12. Mô hình dạy học lấy học sinh làm trung tâm, Trường CBQL GD & ĐT - Nguyễn Kỳ ( Chủ biên), 
13. Đổi mới chương trình THCS và những yêu cầu đối với công tác quản lý của Hiệu trưởng của Nguyễn Hữu Chí, 
14. Đại cương về quản lý, Trường CBQL GD & ĐT và Đại học Quốc gia Hà nội của Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc
15. Giáo dục và Đào tạo là con đường quan trọng nhất để phát huy nguồn lực của Trần Hồng Quân 

File đính kèm:

  • docLe Thi Hue.doc
Sáng Kiến Liên Quan