Sáng kiến kinh nghiệm Áp dụng phương pháp mới dạy kĩ năng đọc

 Chúng ta đã biết tiếng Anh là một trong những ngôn ngữ nước ngoài được sử dụng rộng rãi trên nhiều quốc gia. Nhiều năm trước đây môn tiếng Anh đã được đưa vào Việt Nam và trở thành môn học tiếng nước ngoài. Qua quá trình phát triển và đi lên của xã hội. Để hội nhập và giao lưu với bạn bè quốc tế thì vai trò của môn tiếng Anh lại ngày càng được coi trọng hơn, và tới đây nó sẽ trở thành một trong những môn thi bắt buộc đối với học sinh. Song từ trước tới nay việc dạy và học tiếng anh còn có nhiều bất cập, đặc biệt là kỹ năng đọc hiểu. Đọc hiểu là tạo điều kiện cho học sinh vận dụng những ngữ liệu đã học để tìm hiểu những nội dung thông tin chính của bài. Vì vậy trong quá trình dạy đọc cho học sinh, giáo viên không cần thiết phải phân tích sâu về kiến thức ngôn ngữ, tránh đọc và dịch sang tiếng mẹ đẻ từng từ, từng câu. Để có được kỹ năng đọc hiểu giáo viên chúng ta phải chú ý đến mọi cách đọc như đọc lướt để đoán ý chính, đoán nghĩa, suy đoán từ ngữ cảnh và đọc hiểu toàn bộ ý chính của bài. Cũng như chúng ta đã biết, chúng ta không thể phát triển được kỹ năng nghe, kỹ năng nói, kỹ năng viết nếu như kỹ năng đọc của chúng ta kém. Chính vì vậy để phát triển kỹ năng đọc học sinh cần có nhiều thời gian thực hành và kỹ năng đọc cũng phải được dạy ngay từ khi học sinh mới bắt đầu được học tiếng Anh và dạy đồng thời với các kỹ năng khác.

 

doc10 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 08/08/2015 | Lượt xem: 1277 | Lượt tải: 63Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Áp dụng phương pháp mới dạy kĩ năng đọc", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
A- Đặt vấn đề
I/ Lý do chọn đề tài
 Chúng ta đã biết tiếng Anh là một trong những ngôn ngữ nước ngoài được sử dụng rộng rãi trên nhiều quốc gia. Nhiều năm trước đây môn tiếng Anh đã được đưa vào Việt Nam và trở thành môn học tiếng nước ngoài. Qua quá trình phát triển và đi lên của xã hội. Để hội nhập và giao lưu với bạn bè quốc tế thì vai trò của môn tiếng Anh lại ngày càng được coi trọng hơn, và tới đây nó sẽ trở thành một trong những môn thi bắt buộc đối với học sinh. Song từ trước tới nay việc dạy và học tiếng anh còn có nhiều bất cập, đặc biệt là kỹ năng đọc hiểu. Đọc hiểu là tạo điều kiện cho học sinh vận dụng những ngữ liệu đã học để tìm hiểu những nội dung thông tin chính của bài. Vì vậy trong quá trình dạy đọc cho học sinh, giáo viên không cần thiết phải phân tích sâu về kiến thức ngôn ngữ, tránh đọc và dịch sang tiếng mẹ đẻ từng từ, từng câu. Để có được kỹ năng đọc hiểu giáo viên chúng ta phải chú ý đến mọi cách đọc như đọc lướt để đoán ý chính, đoán nghĩa, suy đoán từ ngữ cảnh và đọc hiểu toàn bộ ý chính của bài. Cũng như chúng ta đã biết, chúng ta không thể phát triển được kỹ năng nghe, kỹ năng nói, kỹ năng viết nếu như kỹ năng đọc của chúng ta kém. Chính vì vậy để phát triển kỹ năng đọc học sinh cần có nhiều thời gian thực hành và kỹ năng đọc cũng phải được dạy ngay từ khi học sinh mới bắt đầu được học tiếng Anh và dạy đồng thời với các kỹ năng khác.
Là một giáo viên tiếng Anh tôi luôn tìm tòi và suy nghĩ để tìm ra những phương pháp giảng dạy hợp lý, giúp học sinh của mình hứng thú khi học đọc và giúp học sinh phát triển kỹ năng này.
II/ Cơ sở thực tiễn
Qua thực tế được trực tiếp tham gia giảng dạy chương trình Tiếng Anh 6,7 ,8, 9 mới tôi đã áp dụng phương pháp dạy học mới và đặc biệt chú ý đến việc '' áp dụng phương pháp mới dạy kĩ năng đọc '' cho học sinh khó đối với học sinh
Đọc hiểu là một kỹ năng khó đối với học sinh nên các em thường ngại học đọc và chính vì ngại đọc nên dẫn đến ngại nói tiếng Anh. Để giúp học sinh khắc phục những khó khăn này và để giờ đọc có hiệu quả cao, tôi chia quá trình dạy đọc làm 3 giai đoạn: Trước khi đọc, trong khi đọc và sau khi đọc. Những yêu cầu hoạt động được thiết kế theo các bước này sẽ giúp học sinh hiểu bài và thực hành được các kỹ năng lời nói một cách thấu đáo và có suy nghĩ hơn, trên cơ sở đó sẽ khắc sâu bài lâu bền hơn.
B- Nội dung
*Các bước tiến hành
 Trong một quá trình dạy đọc và cụ thể là trong mỗi bài học chúng ta đều lựa chọn các bài tập khác nhau cho các mục đích dạy đọc khác nhau. Thường thì một bài dạy kĩ năng đọc cần tải qua 3 giai đoạn : Trước khi đọc ( Pre -reading ) , trong khi đọc ( While – reading ) và sau khi đọc ( Post – reading ). Mỗi giai đoạn đều được tiến hành với mục đích khác nhau và bằng các thủ thuật khác nhau.
I. Giai đoạn 1-Trước khi đọc. (Pre - reading)
ở giai đoạn này giáo viên làm một số thủ thuật để hướng học sinh vào bài giảng, tập chung vào chủ đề của bài đọc. Chính vì vậy giáo viên cần đưa ra những lý do đọc cho học sinh. Giai đoạn này có một số thủ thuật sau: True/False statements prediction, open - prediction, ordering, pre - question.
1. True/False statements prediction: Đối với thủ thuật này giáo viên cần thực hiện các bước sau:
- Giáo viên viết 5 đến 10 câu lên bảng, các câu này có đánh số thứ tự. Những câu này có chứng đựng thông tin chính của đoạn văn mà học sinh sắp đọc, trong số những câu này thì có một nửa số câu là đúng còn một nửa là sai với nội dung của bài đọc.
- Cho học sinh chép số của các câu đó vào vở.
- Học sinh đoán xem câu nào đúng, câu nào sai (học sinh làm việc cá nhân trước, sau đó so sánh kết quả với bạn bên cạnh).
- Giáo viên lấy kết quả dự đoán của học sinh. Cho học sinh đọc bài khoá để kiểm tra kết quả dự đoán của mình.
Ví dụ: Khi dạy Unit 1 page 11 English 7.
Hoa is a new student in class 7A. She is from Hue and her parents still live there. She lives with her uncle and aunt in Ha Noi.
Hoa has lots of friends in Hue. But she doesn't have any friends in Ha Noi. Many things are different. Her new school is bigger than her old school. Her new school has a lot of students. Her old school doesn't have many students.
Hoa is unhappy. She misses her parents and her friends.
Tôi nêu yêu cầu của bài đọc như sau:
You are going to read a, about Hoa. what will you think about her? Và tôi treo bảng phụ lên, trong bảng phụ tôi viết một số thông tin sau:
	1. Hoa is from Huế.
2. She lives with her parents in Hà Nội.
3. She has a lot of friends in Hà Nội.
4. She misses her friends in Huế.
5. She is happy now.
- Tôi cho học sinh chép số của câu vào vở và đoán câu đúng sai.
2. Open - prediction.
- Với thủ thuật này giáo viên chỉ cần đặt vấn đề nêu ra tình huống hoặc là giới thiệu chủ điểm của bài đọc. Yêu cầu học sinh đoán những thông tin mà các em sẽ đọc (học sinh có thể làm việc theo cặp, nhóm, cá nhân).
- Giáo viên lấy kết quả dự đoán của học sinh.
- Sau đó cho học sinh đọc bài khoá để kiểm tra dự đoán của mình.
Ví dụ: Khi dạy Unit 5 page 56 English 6.
- Tôi nêu ra yêu cầu của bài đọc: You are going to read a text about Ba. You guess and fill in the times in the table for Ba.
- Tôi treo bảng phụ lên bảng trong bảng phụ có viết một bảng biểu:
Action
Time
get up
go to school
Classes start
classes finish
have lunch
go home
go to bed
- Tôi yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm, sau đó đại diện các nhóm lên bảng trình bày dự đoán của mình. Cuối cùng là học sinh đọc bài để kiểm tra dự đoán của nhóm mình.
3. Pre - question: Với thủ thuật này giáo viên làm một số bước sau:
- Giáo viên nêu tình huống, sau đó viết lên bảng một số câu hỏi (những câu hỏi này hỏi về nội dung chính của bài đọc).
- Học sinh đọc câu hỏi và suy nghĩ về những câu hỏi đó (những câu hỏi này nhằm hướng sự tập trung của học sinh vào chủ điểm của bài đọc). Vì vậy học sinh chỉ nghĩ về câu hỏi mà không nhất thiết phải đoán câu trả lời.
- Cho học sinh đọc bài khoá để trả lời câu hỏi.
Ví dụ: Khi dạy Unit 14 page 145 English 6.
Minh and his friends are going to have a picnic near a lake.
Nam is going to bring his camera. He is going to take some photos.
Tuan is going to bring some food.
Minh is going to bring some drinks.
Tôi nêu ra tình huống như sau: Minh and his friends are going to have a picnic. Think of these questions.
1. Where are they going to go?
2. What three things are they going to bring?
3. What are they going to do there?
Tôi cho học sinh suy nghĩ về câu hỏi trong 2 đến 3 phút, sau đó cho học sinh đọc bài để trả lời câu hỏi trên.
4. Ordering: Đối với thủ thuật này giáo viên làm một số bước sau.
- Giáo viên đưa ra một số câu trần thuật hoặc một số bức tranh không theo thứ tự của câu truyện. 
- Học sinh đoán thứ tự của các câu hoặc các bức tranh (học sinh làm việc cá nhân, cặp hoặc nhóm), giáo viên lấy kết quả dự đoán.
- Cho học sinh đọc bài khoá để kiểm tra lại việc sắp xếp của mình.
Ví dụ 1: Khi dạy Unit 8 page 86 English 6.
Tôi đưa ra tình huống: You are going to read a picture story about a truck driver. You guess and order statement.
1. He is going to Hà Nội.
2. He is meeting the farmer.
3. He is having breakfast.
4. He is going to a farm.
5. He is loading the truck.
6. He is unloading vegetables in the truck.
- Cho học sinh thảo luận theo nhóm hoặc cặp để sắp xếp lại những câu trên theo trật tự câu truyện mà các em nghĩ sẽ xảy ra.
Ví dụ 2: Khi dạy Unit 11 page 70 Enhlish 7.
- Tôi phô tô một số bức tranh (có liên quan đến bài đọc) và dán những bức tranh này lên bảng (không theo trật tự của câu truyện).
- Cho học sinh thảo luận theo cặp hoặc nhóm để sắp xếp những bức tranh theo trật tự mà các em nghĩ sẽ xảy ra trong câu truyện.
II. Giai đoạn 2- trong khi đọc (While - reading).
Mục đích của hoạt động này là làm cho bài đọc dễ dàng hơn và giúp học sinh hiểu được nội dung chính của bài đọc. Chính vì vậy tôi chọn một số thủ thuật sau: answers given, matching, multiple choice, gap fill, wh - questions, and grids.
1. answers given: Với thủ thuật này giáo viên làm như sau:
- Giáo viên viết một số câu trả lời lên bảng.
- Học sinh đọc bài khoá và đặt câu hỏi cho các câu trả lời.
- Sau đó so sánh kết quả với bạn, giáo viên lấy kết quả.
Ví dụ: Khi dạy Unit 12 page 130 English 6.
Tôi viết lên bảng một số câu trả lời.
a. about 3 times a year.
b. twice a week.
c. No, never.
d. yes, always.
- Cho học sinh đọc bài khoá để đặt câu hỏi cho các câu trả lời trên (học sinh làm việc cá nhân sau đó so sánh kết quả với bạn).
- Giáo viên lấy kết quả và sửa lỗi cho học sinh (nếu có). 
2. Grids: Đối với thủ thuật này giáo viên làm như sau.
- Giáo viên kẻ một bảng biểu lên bảng và yêu cầu học sinh kẻ vào vở.
- Cho học sinh đọc bài khoá để điền thông tin cần thiết vào bảng (học sinh làm việc cá nhân rồi so sánh kết quả với bạn).
- Giáo viên lấy kết quả.
Ví dụ: Khi dạy Unit 4 page 47 English 7.
Tôi kẻ bảng biểu lên bảng và yêu cầu học sinh kẻ vào vở.
	 The library
opening time
Books on the left
Books on the right
Books in English
closing time
- Học sinh đọc bài để điền thông tin cần thiết vào bảng (học sinh làm việc cá nhân, sau đó so sánh kết quả với bạn).
- Giáo viên lấy kết quả.
3. Gap fill: Đối với thủ thuật này giáo viên làm như sau.
- Giáo viên viết một đoạn văn ngắn lên bảng còn để vài khoảng trống (khoảng trống có thể là từ vựng hay ngữ pháp hay cũng có thể là phối hợp). Đoạn văn càng có nhiều chỗ trống càng khó.
- Học sinh đọc bài khoá để điền vào chỗ trống (học sinh làm việc cá nhân rồi so sánh kết quả với bạn).
- Giáo viên lấy kết quả và sửa lỗi (nếu có).
Ví dụ: Khi dạy Unit 14 page 142 English 7.
- Tôi viết một đoạn văn có một vài khoảng trống lên bảng phụ và treo bảng phụ lên.
In 1960s, most _(1)_ in Viet Nam did _(2)_ have a _(3)_set. The people with TVs were _(4)_. In the _(5)_, the neighbors would _(6)_ round the TV. _(7)_ would stay until the TV programs finished. Viet Nam is different _(8)_. more families _(9)_ a TV set and _(10)_ is mone comfortable. But neighbors don't _(11)_ each other as well as they did in the past.
- Tôi yêu cầu học sinh đọc bài khóa để điền vào chỗ trống trong đoạn văn trên (học sinh làm việc cá nhân).
- Học sinh so sánh kết quả với bạn của mình, giáo viên lấy kết quả và sửa lỗi (nếu có).
4. Wh - questions: Đối với thủ thuật này giáo viên làm như sau.
- Giáo viên viết câu hỏi vào bảng phụ chỉ dùng wh - questions và treo bảng phụ lên.
- Yêu cầu một vài học sinh đọc to các câu hỏi này.
- Học sinh đọc bài và trả lời câu hỏi (làm việc cá nhân sau đó so sánh kết quả với bạn mình).
- Cho học sinh chơi trò chơi "Lucky number" để trả lời câu hỏi.
Ví dụ: Khi dạy Unit 4 page 49 English 7.
One of the world's largest libraries is the united States' library of congress. it is in washington D.C, the capital of the usa. it receives copies of all American books. it contains over 100 million books. it has about 1,000 km of shelves. it has over 5,000 employees.
Tôi viết câu hỏi vào bảng phụ.
a. Where is the library of congress?
b. how many books does it have?
c. how long are its shelves?
d. Hom many people work there?
e. Why is it so large?
- Gọi một vài học sinh đọc to câu hỏi.
- Học sinh đọc bài khoá để trả lời câu hỏi (làm việc cá nhân rồi so sánh kết quả với bạn mình).
- Cho học sinh chơi trò "Lucky number" để trả lời câu hỏi.
5. Matching: Đối với thủ thuật này giáo viên làm như sau.
- Giáo viên viết một số câu hỏi hay một số câu trần thuật (có thể câu không đủ thông tin) lên phía trái bảng, còn phía phải bảng giáo viên viết câu trả lời hay treo tranh hay những thông tin còn lại của câu trần thuật nhưng không theo thứ tự với câu ở phía bên trái bảng.
- Học sinh đọc bài khoá để nối câu, câu trả lời với câu hỏi, câu với tranh (học sinh làm việc cá nhân, cặp, nhóm).
- So sánh kết quả với bạn, giáo viên lấy kết quả.
Ví dụ: Khi dạy Unit 7 page 73 English 6.
Dear Lan, 
Thank you for you letter. I'm in the country with my friend Thanh .She lives in a beautifull house .There's a flower garden in front of the house .There's a vegetable garden behind the house .To the left of the house, there's a lake.To the right of the house, there are tall trees. Here is a photo.
Write soon.
 Love,
 Nga
- Tôi viết một số câu hỏi lên phía trái của bảng và câu trả lời lên phía phải của bảng (câu trả lời không theo thứ tự với câu hỏi).
1. Is there a flower garden in front of the house?
a. Yes, it is.
2. Is the house beautiful?
b. No, it isn't.
3. Is there a flower garden behind the house?
c. No, she isn't.
4. In the lake to the right of the house
d. Yes, there is.
5. Is Nga in the city?
e. No, there isn't.
- Học sinh đọc bài để nối câu hỏi với câu trả lời đúng (có thể làm theo nhóm).
- Giáo viên lấy kết quả. 
6. multiple choice: Đối với thủ thuật này giáo viên làm như sau.
- Giáo viên viết từ 3 - 5 câu (mỗi câu có một chỗ trống) và các từ hay cụm từ (dùng để điền vào chỗ trống) lên bảng.
- Học sinh đọc bài khoá để chọn câu trả lời đúng nhất (học sinh làm việc cá nhân sau đó so sánh kết quả với bạn).
- Giáo viên lấy kết quả.
Ví dụ: Khi dạy Unit 5 page 57 English 7.
- Tôi viết một số câu có chỗ trống và các từ hay cụm từ lên bảng.
1. Hoa's pen pal Tim goes to________
a. Hoa's school	c. an American school.
b. a schoool in Viet Nam	d. a senior high school.
2. "They never have time to player a whole game". This means recess is________
a. short 	 b. boring 	 	 c. energetic 	 d long
3 Baseball cards are popular with________
a every one 	b. only girls 	c. only boys 	d. mostly boys
4. Eating and talking with friends are popular activities________
a. in America b. in Viet Nam c. in a few country d. worldwide.
- Cho học sinh đọc bài khoá để chọn câu trả lời đúng (làm việc cá nhân rồi so sánh kết quả với bạn).
- Giáo viên lấy kết quả và sửa lỗi (nếu có).
III. Giai đoạn 3 - sau khi đọc (Post - reading).
Sau khi học sinh hoàn thành các bài tập mà giáo viên đưa ra trong phần pre - reading và while - reading chúng ta có thể yêu cầu học sinh làm thêm một số hoạt động sau để giúp cho các em hiểu bài sâu và nhớ bài lâu hơn, các hoạt động này là: write it up, role play, discussion.
1. Write it up.
Học sinh viết lại những thông tin mà chúng nắm được trong phần pre - reading và while - reading. Với thủ thuật này giáo viên có thể yêu cầu học sinh làm việc theo cặp, nhóm hoặc cá nhân.
Ví dụ: Đối với Unit 4 page 49 English 7.
Sau khi học sinh làm các hoạt động pre và while - reading tôi yêu cầu học sinh viết một đoạn để so sánh thư viện trường học của mình với thư viện của Congress (học sinh làm việc cá nhân).
2. Role play.
- Học sinh đóng vai các nhân vật trong bài đọc để diễn đạt lại nội dung của bài (học sinh có thể thực hành theo cặp nếu như bài đọc có 2 nhân vật hoặc thực hành theo nhóm nếu như trong bài có nhiều nhân vật sau đó giáo viên yêu cầu học sinh đổi vai).
Ví dụ: Khi dạy Unit 4 page 47 English 7.
- Tôi cho học sinh đóng lại vai người giữ thư viện và Hoa.
3. Discussion: Giáo viên chọn một đề tài có liên quan đến bài đọc sau đó yêu cầu học thảo luận về chủ đề đó (theo cặp hoặc nhóm).
Ví dụ: Khi dạy Unit 5 page 57 English 7
Tôi cho học sinh thảo luận về các trò chơi trong giờ giải lao ở trường học của mình. 
C- Kết quả
 Qua việc áp dụng phương pháp mới vào việc dạy kĩ năng đọc cho HS THCS, qua việc thiết kế bài soạn theo phương pháp mới tôi đã có kết quả rõ rệt. Đối chiếu kết quả kiểm tra 45' và khảo sát chất lượng học kì năm học 2005 – 2006 cho thấy :
Lớp
Sĩ số
Đầu năm
Bài kiểm tra 45' , kscl
8a
42
50 % > TB
73% > TB
8b
42
52% > Tb
78% >TB
 Qua kết quả trên cho thấy chất lượng cuối năm học cao hơn so với đầu năm chứng tỏ việc áp dụng phương pháp mới vào việc dạy kĩ năng đọc cho học sinh là cần thiết góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Anh cho HS THCS .
D- Kết luận
1/ Đề xuất
Đọc là một trong bốn kỹ năng cơ bản và quan trọng trong việc học ngoại ngữ. Chính vì vậy để phát triển được kỹ năng này đòi hỏi cả thầy và trò phải có một sự nỗ nực lớn. Thầy cần chuẩn bị bài giảng một cách công phu, sáng tạo và có nhiều hoạt động phù hợp với nội dung của bài. Trò tham gia bài giảng nhiệt tình một cách chủ động thì kết quả mang lại sẽ rất khả quan và các em sẽ nhớ bài lâu hơn. 
Vậy để đọc hiểu có hiệu quả chúng ta phải tuân thủ các bước dạy một cách đầy đủ, dạy các em cách đọc hiểu để nắm bắt được những thông tin và kiến thức của bài và biến những thông tin, kiến thức đó thành ngôn ngữ của mình để luyện tập và sử dụng hệ thống ngôn ngữ đã học một cách thành thạo.
2/ Lời kết
Tôi đã áp dụng phương pháp mới trong việc dạy kĩ năng viết cho học sinh và thấy kết quả ngày càng có chiều hướng tốt hơn. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện cũng như đánh giá còn có những vấn đề chưa được đề cập, giải quyết một cách chu đáo và còn có nhiều thiếu sót không thể tránh khỏi. Vì vậy tôi rất mong muốn và biết ơn những ý kiến xây dựng của bạn bè đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện và có hiệu quả thiết thực để nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh trong nhà trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn !

File đính kèm:

  • docS¸ng kiÕn kinh nghiÖm d¹y tiÕng anh 2004.doc
Sáng Kiến Liên Quan