Rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 5

I ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Lí do chọn đề tài

a.Cơ sở lí luận

 Tiếng Việt là một môn học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động cho học sinh. Năng lực đó được thể hiện qua bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết.Trong đó, đọc là một yêu cầu rất cần thiết và quan trọng đối với học sinh Tiểu học. Nó giúp học sinh chiếm lĩnh được ngôn ngữ để dũng trong giao tiếp và học tập. Chính vì thế mà dạy đọc có ý nghĩa vô cùng to lớn, là một đòi hỏi cơ bản đối với mỗi người đi học. Đọc là một công cụ để các em học các môn học khác, tạo điều kiện cho học sinh có khả năng tự học và có tinh thần học tập cả đời.Và là khả năng không thể thiếu được của con người trong thời đại văn minh.

 Dạy đọc giúp các em hiểu biết hơn, bồi dưỡng nơi các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ một cách logic cũng như biết tư duy có hình ảnh.Vì thế dạy đọc không chỉ giáo dục tư tưởng đạo đức mà còn giáo dục tính cách thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh. Chúng ta đều biết rằng.Tập đọc là phân môn của Tiếng Việt bậc Tiểu học. Nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh kỹ năng đọc, một kỹ năng quan trọng hàng đầu đối với học sinh ở bậc học đầu tiên.Vậy làm sao để giúp học sinh học tốt phân môn này? Cũng như làm thế nào để “rèn kỹ năng đọc cho học sinh”. Đó cũng chính là sự băn khoăn, trăn trở của giáo viên trong mỗi giờ dạy Tập đọc.

 

doc11 trang | Chia sẻ: thuhong87 | Ngày: 05/03/2019 | Lượt xem: 155 | Lượt tải: 1Download
Bạn đang xem tài liệu "Rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 5", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 việc đọc các từ phiên âm tiếng nước ngoài như Hi-rô-si-ma; Na-ga-da-ki; Ma-ri-ô; Giu-li-et-ta; Li-vơ-pun; ...và các từ khi đọc học sinh thường mắc lỗi phát âm địa phương. 
Ví dụ : Bài “Lòng dân”có các từ: tui (tôi); ra lịnh ( ra lệnh); thiệt (thật )... Hoặc bài “ Thư gửi các học sinh” các từ : giời (trời) ; giở đi ( trở đi ) 
* Đối với các bài thơ: Đọc đúng trong bài thơ không những phát âm đúng phải biết ngắt nghỉ theo nhịp thơ, nhấn giọng các từ ngữ. Khi đọc cần ngắt nhịp 2/3 hay 3/4 hay 4/4 ... Gọi học sinh đọc các khổ thơ cho các em nhận xét ngắt nhịp đúng chưa, ngắt nhịp ở những tiếng nào. Giáo viên ghi khổ thơ vào bảng phụ để học sinh nói cách ngắt nhịp, nhận xét bổ sung, giáo viên thống nhất.
Ví dụ bài: Hành trình của bầy ong.
- Gọi học sinh đọc, nhận xét, đọc lại và thống nhất cách ngắt nhịp: 4/2 hay 3/5 .
“Chắt trong vị ngọt /mùi hương 
Lặng thầm thay/ những con đường ong bay
 Trải qua mưa nắng /vơi đầy
Men trời đất/ đủ làm say đất trời.
Hoặc bài: “Chú đi tuần” không ngắt nhịp cố định mà chỉ cần ngắt theo cảm xúc: 
 Chú đi tuần/ đêm nay
 Hải Phòng/ yên giấc ngủ say
 	 Cây /rung theo gió /
 Lá /bay xuống lòng đường
 	 Chú đi qua cổng trường /
 Các cháu miền Nam /yêu mến.	
Ngoài ra không những tôi luyện cho học sinh đọc ngắt đúng nhịp thơ, tôi còn rèn cho học sinh biết đọc vắt dòng đúng.
+Ví dụ: Hành trình của bầy ong
 “Bầy ong giữ hộ cho người. 
 Những mùa hoa /đã tàn phai tháng ngày” 
 Để rèn luyện cho học sinh phát âm chuẩn giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát hiện lỗi và sửa lỗi. Trong giờ tập đọc, tôi gọi học sinh đọc tốt đọc bài, và giao nhiệm vụ cụ thể các em khác đọc thầm theo tìm những tiếng khó đọc, các phụ âm hay đọc sai. Gọi học sinh phát hiện và phát âm, các em khác theo dõi nhận xét phát âm của bạn và phát âm lại. 
 Rèn đọc lưu loát
 *Khái niệm: Đọc lưu loát là nói đến phẩm chất đọc về mặt tốc độ, đọc không ê a, ngắc ngứ.Tốc độ đọc nhanh và đọc lưu loạt chỉ thực hiện được khi đã đọc đúng.
 *Biện pháp: Giáo viên hướng dẫn học sinh làm chủ tốc độ bằng cách đọc mẫu. Học sinh đọc thầm theo. Học sinh đọc thầm nối tiếp có sự kiểm tra của giáo viên và các bạn để điều chỉnh tốc độ. Để thực hiện yêu cầu này, giáo viên cần cho học sinh đọc trước ở nhà nhiều lần. Hướng dẫn học sinh đọc đúng ngữ điệu, lên giọng. Muốn vậy, học sinh phải biết ngắt nghỉ hơi đúng, nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu ở dấu chấm. Dựa vào quan hệ ngữ pháp để xác định cách ngắt nhịp câu. 
+Có thể dùng lời nói kết hợp chữ viết, ký hiệu hay đồ dùng dạy học, hướng dẫn học sinh cách ngắt nghỉ hơi, tốc độ đọc, giọng đọc thích hợp. Mỗi đoạn gọi 2,3 học sinh đọc.Gọi học sinh nhận xét bạn và đọc lại chú ý đọc ngắt nghỉ những cụm từ trong những câu văn dài bài văn xuôi. 
+Ví dụ: Bài : “Một chuyên gia máy xúc’’ có câu: 
“Thế là / A-lếch-xây đưa bàn tay vừa to /vừa chắc ra/ nắm lấy bàn tay đầy dầu mỡ của tôi lắc mạnh và nói://” 
- Giáo viên yêu cầu học sinh phát hiện câu dài. giáo viên ghi lên bảng phụ. Gọi học sinh đọc. Sau đó yêu cầu các em khác nhận xét cách ngắt hơi, nghỉ hơi của bạn. Mời em đó đọc lại. Cuối cùng, giáo viên thống nhất cách đọc. Từ chỗ phát âm chuẩn, đọc đúng ngữ điệu học sinh sẽ dễ dàng đọc lưu loát, trôi chảy bài văn, bài thơ. Và đọc lưu loát chỉ thực sự có ích khi nó không tách rời việc hiểu rõ điều mình đọc.
 Rèn đọc hay
*Khái niệm: Đó là việc đọc thể hiện kĩ năng làm chủ ngữ điệu, chỗ ngừng giọng, cường độ giọng,.biểu đạt đúng ý nghĩa và tình cảm của tác giả gởi gấm trong bài đọc. 
 *Biện pháp: Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh tham gia vào việc tìm giọng đọc cho bài. VD: Đối với những bài văn miêu tả thì đọc giọng như thế nào? Văn kể chuyện? Những bài thơ
 Yêu cầu luyện đọc đoạn ngắn: Em hãy đọc đoạn văn, đoạn thơ mà em thích cho cô và các bạn cùng nghe! Để đọc hay thì người đọc phải làm chủ chỗ ngắt giọng, làm chủ tốc độ đọc, làm chủ cường độ đọc.(to, nhỏ, nhấn giọng hay không) và làm chủ ngữ điệu (độ cao, lên giọng hay hạ giọng).Thể hiện sắc thái tình cảm khi đọc. Để học sinh có được khả năng này, giáo viên cần tổ chức các hình thức thi đọc hay, đọc phân vai, đóng kịchđối với các tác phẩm có nhiều lời hội thoại.. 
 Giáo viên cần chú ý đến tư thế tác phong của người đọc, giọng đọc bình tĩnh, tự nhiên, độ âm vang vừa phải, một sắc thái vui tươi trên nét mặt hay một thoáng trầm tư phù hợp với từng câu, đoạn sẽ làm tăng thêm cái hay cái đẹp và dễ đi vào lòng người. Ánh mắt không phải lúc nào cũng chằm chằm nhìn vào sách mà đôi lúc nhìn vào người nghe để lôi cuốn sự chú ý của mọi người. 
 Đối với học sinh lớp 5.Yêu cầu học sinh đọc đúng, đọc hay là yêu cầu trọng tâm, nên phải dành thời gian thích hợp để luyện đọc.
 Ví dụ:Giáo viên cần hướng dẫn học sinh ngắt, nghỉ hơi đúng giữa các cụm từ, nhấn giọng ở những từ ngữ thể hiện sự xúc động của chú Mo-ri-xơn trong bài “Ê-mi-li, con”
 “ Ê-mi-li / con ôi!//
 Trời sắp tối rồi...//
 Cha không bế con về /được nữa!//
 Khi đã sáng bùng lên ngọn lửa.//”
+Đọc giọng yêu thương, nghẹn ngào, xúc động của lời người cha sắp phải xa đứa con gái bé bỏng của mình mãi mãi; và đọc vắt hai dòng thơ:
 “Con sẽ ôm lấy mẹ mà hôn
 Cho cha nhé!”
+Đọc ngắt nghỉ hơi giữa các cụm từ thể hiện nỗi lòng của người chồng nhắn gửi cho vợ: 
 “Cha đi vui,/ xin mẹ đừng buồn!//”
+Đọc giọng phẩn nộ, đau thương: 
 “Giôn- xơn!//
 Tội ác bay chồng chất/
 Nhân danh ai/
 Bay mang những B.52/
 Những Na-pan, /hơi độc/
 Đến Việt Nam/
 Để đốt những nhà thương/ trường học
 Giết những con người/ chỉ biết yêu thương
 Giết những trẻ em/ chỉ biết đến trường
 Giết những đồng xanh/ bốn mùa hoa lá
 Và giết cả những dòng sông/ của thơ ca nhạc hoạ ?”
+Đọc giọng vui, hồn nhiên: 
 “Trái đất này/ là của chúng mình
 Quả bóng xanh/ bay giữa trời xanh...”
+Đọc giọng trân trọng, tự hào: 
 “Ngày nay, khách vào thăm Văn Miếu Quốc Tử Giám còn thấy bên giếng Thiên Quang, dưới những hàng muỗm già cổ kính, 82 tấm bia khắc tên 130 vị tiến sĩ từ khoa thi 1442 đến khoa thi năm 1779 như chứng tích về một nến văn hiến lâu đời.”
 (Nghìn năm văn hiến Tiếng Việt 5 tập 1 trang 15)
+Đọc giọng hồi hộp, nhanh, dồn dập: 
 “Vịnh lao ra như tên bắn, la lớn:
 - Hoa, Lan, tàu hoả đến!”
 Nghe tiếng la, bé Hoa giật mình, ngã lăn khỏi đường tàu, còn bé Lan đứng ngây người, khóc thét.” 
 ( Út Vịnh – Tiếng Việt 5; tập 2)
+Đọc giọng nhẹ nhàng, trầm lắng, thiết tha diễn tả cảm xúc nhớ thương mẹ da diết của anh chiến sĩ:
 “Ai về thăm mẹ quê ta
 Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm...
 Bầm ơi có rét không bầm?
 Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn.” ( Bầm ơi! – Tố Hữu)
+Đọc giọng rõ ràng, rành mạch, dứt khoát giữa các câu thể hiện tính chất nghiêm minh của luật tục:
 “Kẻ thò tay ra để đánh cắp của người khác/ là kẻ có tội. Kẻ đó phải trả lại đủ giá; ngoài ra/ phải bồi thường gấp đôi số của cải đã lấy cắp.
 ...Kẻ đi cùng đi/ bước cùng bước/ nói cùng nói với kẻ có tội cũng là có tội.”
 (Luật tục xưa của người Ê-đê)
+Đọc thể hiện lời của nhân vật và lời người dẫn chuyện: 
-Người dẫn chuyện: giọng rõ ràng, biểu thị cảm xúc khâm phục:
“Xưa, có một vị quan án rất tài. Vụ án nào ông cũng tìm ra manh mối và phân xử công bằng.”
 -Hai người đàn bà: giọng mếu máo, ấm ức: “Tấm vải này là của con, bà này lấy trộm.”
-Quan án: giọng ôn tồn, đĩnh đạc, trang nghiêm:
“Hai người đều có lý nên ta xử thế này: tấm vải xé đôi, mỗi người một nửa.”
+Đọc giọng phù hợp như đang hỏi chính bản thân mình, câu hỏi không cần người khác trả lời: 
 “ Oa-sinh-tơn
 Buổi hoàng hôn
 Ôi những linh hồn
 Còn, mất? (Ê-mi-li, con – Tố Hữu)
+Đọc giọng gấp gáp, hoảng hốt: “ Cháy! Cháy nhà !” (Tiếng rao đêm)
+Đọc kéo dài và hạ giọng ở phần cuối câu: “ Bánh giò, ò, ò....”
+Đọc chú ý nghỉ hơi ngắn ở những câu ngắn:
“Gió thơm. Cây cỏ thơm. Đất trời thơm.” nhằm thể hiện nhịp thở của người đang hít vào để cảm nhận mùi thơm của thảo quả lan trong không gian. Khi đọc, người đọc không chỉ quan tâm đến việc ngắt nhịp mà còn thể hiện nhịp đọc, cảm xúc. Đọc nhanh chậm hay vừa phải là do nôị dung bài văn, bài thơ quyết định. 
+Với câu văn dài, tốc độ đọc giãn ra, làm cho người đọc, người nghe có thời gian suy nghĩ:“ Cô bé ngây thơ tin vào truyền thuyết nói rằng nếu gấp đủ một nghìn con sếu bằng giấy treo quanh phòng, em sẽ khỏi bệnh. Nhưng Xa- da- cô chết khi em mới gấp được 644 con”
 ( Những con sếu bằng giấy- TV5- tập 1). 
 Để tiện cho việc luyện đọc hay, tôi chép từng đoạn văn, đoạn thơ lên bảng phụ. Sau khi hỏi học sinh về nội dung của từng đoạn, tôi hỏi về cách đọc hay của từng đoạn. Sau đó gọi 1 học sinh đọc tốt đọc hoặc cô giáo đọc mẫu để thể hiện cách đọc hay của từng đoạn đó; rồi yêu cầu học sinh phát hiện ra những từ ngữ cần nhấn giọng, chỗ cần ngắt, nghỉ hơi. Giáo viên gạch chân những từ đó, gọi học sinh đọc. Sau đó yêu cầu các em cùng bạn luyện đọc theo nhóm. Nghệ thuật đọc hay thể hiện ở việc nhấn giọng, cao giọng hay hạ giọng trong bài, trong đoạn. Việc nhấn giọng, hạ giọng hay lên giọng phải chính xác, bộc lộ rõ nội dung câu văn, câu thơ, đoạn văn, đoạn thơ, bài văn, bài thơ. Cái gốc để giúp cho học sinh có thể đọc tốt là phải giúp học sinh cảm thụ nội dung bài tập đọc. 
 b.Luyện đọc có ý thức (đọc hiểu) 
 *Khái niệm: Là đọc hiểu nội dung bài văn, bài thơ.Hiểu nghĩa từ, cụm từ, câu, đoạn.toàn bộ những gì đọc được. 
 *Biện pháp: Mỗi bài tập đọc có nội dung, ý nghĩa khác nhau nên nhất thiết cần đọc nắm được nội dung để lựa chọn giọng đọc phù hợp. Cho học sinh đọc thầm, giao nhiệm vụ cho học sinh để kiểm tra việc đọc hiểu.Chúng ta đều biết đọc hay khó hơn đọc bình thường. Đọc bình thường chỉ đòi hỏi phát âm đúng, đọc lưu loát, biết nghỉ đúng chỗ theo các dấu ngắt câu, biết lên, xuống giọng. Còn đọc hay đòi hỏi người đọc phải nắm chắc nội dung từng đoạn từng bài, tâm tình và lời nói của từng nhân vật để diễn tả cho đúng tinh thần của câu văn, bài văn, tức là đi sâu vào bản chất của câu văn, bài văn. Cho nên, mục đích đọc hay là bộc lộ ra được cái bản chất của nội dung và trên cơ sở đó muốn truyền đạt đúng những ý nghĩ và tình cảm của tác giả. Muốn đọc hay phải hiểu kỹ nội dung của bài tập đọc và phải truyền đạt tốt sự hiểu biết của mình tới người nghe. Chính vì thế, việc giúp học sinh hiểu nội dung một văn bản là rất cần thiết và nên làm. Trước tiên, giáo viên cần giúp học sinh:
+Hiểu nghĩa các từ khó: Muốn học sinh đọc có hiệu quả thì giáo viên cần giúp học sinh nắm nghĩa của các từ mới, từ khó có trong bài.Giúp học sinh hiểu nghĩa các từ mới để học sinh hiểu điều mình đọc. Trong các bài tập đọc thường có nhiều từ. Vậy ta cần phải giảng những từ nào? Qua kinh nghiệm về giảng dạy phân môn Tập đọc tôi thấy có thể chia những từ để giảng làm 3 loại: loại từ khó, loại từ gắn với chủ đề đang học và loại từ chìa khoá (từ trung tâm). 
 Từ khó có thể là từ địa phương được tác giả đưa vào bài, là loại từ Hán Việt, là danh từ riêng. Loại từ này thường có trong phần chú giải cho nên sau khi đọc mẫu xong tôi cho học sinh đọc phần chú giải để học sinh hiểu ngay được những từ này khi bắt đầu tiếp xúc với bài tập đọc. 
 Từ chủ đề: Trong mỗi chủ đề tập đọc có một số từ ngữ mà giáo viên cần lưu ý bởi đó là những từ làm toát lên chủ đề. Từ chủ đề cũng có khi là từ khó. Giáo viên có thể kết hợp giảng các từ chủ đề với các từ khó hoặc với các từ trung tâm trong quá trình khai thác. 
 Từ trung tâm: Đây là những từ có sức nặng, giáo viên cần khai thác để làm toát lên nội dung bài học. Chia những từ cần giảng làm 3 loại như vậy để dễ phân biệt còn trong thực tế nhiều khi từ khó cũng là từ chủ đề hoặc từ trung tâm. Vậy khi giảng từ ta có thể dùng những phương pháp trực quan, liên hệ, so sánh, phương pháp định nghĩa, giảng giải. Khi dùng phương pháp trực quan, tôi áp dụng bằng nhiều hình thức: Trực quan bằng giọng nói, giọng đọc, nét mặt, ánh mắt, dáng điệu, động tác...Ở lớp 5 nhận thức lý tính tổng quát của học sinh đã phát triển nên trong khi giảng từ cho học sinh hiểu tôi vẫn thường dùng phương pháp định nghĩa hay giảng giải xen lẫn các phương pháp khác. 
Ví dụ: Khi giảng từ “quyến rũ” tôi dùng phương pháp giảng giải: quyến rũ có nghĩa là có một sức lôi cuốn mạnh mẽ làm cho quyến luyến không muốn rời xa. 
+ Hiểu ý nghĩa bài đọc: Muốn vậy cần phải chú ý bám sát yêu cầu của bài tập đọc. Yêu cầu đó phải được xác định từ khi soạn bài ở nhà. chúng ta phải thông qua việc khai thác nghệ thuật để làm toát lên nội dung tư tưởng. Tôi thấy trong khi dạy tập đọc vốn kiến thức văn học mà học sinh tích luỹ được chưa nhiều. Theo tôi tuỳ từng bài mà chúng ta phải xem bài tập đọc ấy có những nét gì nổi bật về nghệ thuật cần khai thác. Qua kinh nghiệm giảng dạy tôi khẳng định một điều: giảng từ và giảng ý thường phải gắn chặt với nhau.Ta phải giảng từ, khai thác hình ảnh để làm toát lên ý của bài hay nói cách khác ta phải khai thác nghệ thuật để làm toát lên nội dung. 
VD: Trong bài Đất nước, cần giúp học sinh hiểu tác giả đã sử dụng biện pháp nhân hoá:
“Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha”
-Lặp từ ngữ: “Trời xanh đây, là của chúng ta
 Núi rừng đây là của chúng ta”
-Liệt kê các hình ảnh: “Những cánh đồng thơm mát
 Những ngả đường bát ngát
 Những dòng sông đỏ nặng phù sa...”
 Để học sinh thấy được vẻ đẹp của mùa thu thắng lợi, đồng thời thể hiện niềm tự hào về đất nước tự do. 
 Hoặc trong bài “Mùa thảo quả”, tôi khai thác điệp từ “thơm” và việc sử dụng một loạt câu văn ngắn xen lẫn với câu văn dài để làm nổi bật mùi thơm đặc biệt của thảo quả. 
VD: “Gió tây lướt thướt bay qua rừng, quyến hương thảo quả đi, rải theo triền núi, đưa hương thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào các thôn xóm Chin San. Gió thơm. Cây cỏ thơm. Đất trời thơm. Người đi từ rừng thảo quả về, hương thơm đậm, ủ ấp trong từng nếp áo nếp khăn.”
 Giáo viên cần liên hệ thực tế nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức phong phú về cuộc sống muôn màu muôn vẻ của nhân dân ta. Những kiến thức đó muốn được cụ thể, sinh động thì tuỳ từng bài mà giáo viên cần có sự liên hệ với thực tế cho phù hợp.
VD: Trong bài “ Hạt gạo làng ta” tác giả có viết: 
“Hạt gạo làng ta
 Có vị phù sa
 Của sông Kinh Thầy
 Có hương sen thơm
 Trong hồ nước đầy
 Có lời mẹ hát
 Ngọt bùi đắng cay”.
 Giáo viên có thể yêu cầu học sinh liên hệ đến thực tế những khó khăn mà cha mẹ và các bác nông dân phải trải qua để làm ra hạt gạo (khó khăn do thời tiết, khó khăn do sâu bệnh gây ra, chứ không còn khó khăn do bom đạn kẻ thù nữa). Qua đó mà ta giáo dục các em tình cảm trân trọng, nâng niu từng hạt lúa và cũng muốn đóng góp công sức nhỏ bé của mình để làm ra hạt lúa. Rõ ràng sau khi giáo viên đã giảng thật kĩ nội dung bài, học sinh hiểu được bài, cảm thụ nội dung bài đọc thì các em đọc hay hơn. Bên cạnh đó, học sinh sẽ đọc tốt hơn nếu như kết hợp với việc nghe cô giáo mình đọc hay, đọc tốt. Cách đọc của cô chính là một thứ phương tiện trực quan có hiệu quả nhất góp phần minh chứng cho những gì mà cô và trò cùng thống nhất ở trên. 
 Chính vì hiểu được điều đó nên tôi thường xuyên rèn đọc hay trước khi đọc cho học sinh nghe. Để rèn cho mình khả năng đó, tôi cũng không quên soạn bài thật kỹ (bài soạn của tôi dựa trên những gợi ý của sách giáo viên song cũng phải căn cứ vào tình hình thực tế của lớp mình về trình độ nhận thức cũng như khả năng đọc của học sinh để có một bài soạn phù hợp nhất, cân đối nhất giữa hai phần rèn đọc và cảm thụ). Xem lại toàn bộ nội dung bài soạn trước khi lên lớp để nắm chắc nội dung bài, thẩm thấu toàn bộ nội dung của bài và nắm được suy nghĩ, tình cảm của tác giả được gửi gắm trong bài văn và đặt mình vào hoàn cảnh của tác giả để nhằm truyền tới người nghe hiểu biết của mình và tình cảm của tác giả. Đặc biệt trong giờ Tập đọc, tôi luôn tạo cho lớp học một không khí thoải mái để các em phấn khởi học tập. Trong việc rèn kỹ năng đọc cho học sinh tôi tránh sự gò ép, áp đặt, mà thường xuyên sử dụng phương pháp gợi mở để phát huy tính chủ động, tích cực và sự sáng tạo ở mỗi học sinh. Từ đó các em có điều kiện để thể hiện mình. 
c.Đọc thầm: Đọc thầm cũng là cách rèn đọc không kém phần quan trọng. Có đọc thầm thì trong một giờ tập đọc, các em được đọc nhiều hơn, có điều kiện làm quen nhiều con chữ khó kết hợp với lắng nghe người khác đọc các em sẽ đọc tốt hơn.Tôi hướng dẫn học sinh cách đọc thầm. Trong giờ tập đọc, thông thường tôi sử dụng đọc thầm cho học sinh hiểu nội dung bài và tìm bài tập đọc có mấy đoạn, đọc thầm để suy nghĩ trả lời những câu hỏi của bài. Đọc thầm để tìm ra giọng đọc hay của một đoạn văn... Cuối cùng, đọc thầm với tốc độ nhanh và hiệu quả hơn (nắm bắt đầy đủ thông tin cảm thụ tốt văn bản nghệ thuật).Hướng dẫn học sinh đọc thầm tôi giao nhiệm vụ cụ thể để định hướng rõ yêu cầu đọc thầm cho học sinh (đọc câu nào, đoạn nào; đọc để trả lời câu hỏi hay để ghi nhớ, hoặc học thuộc lòng.) Giới hạn thời gian để tăng dần tốc độ đọc thầm cho học sinh. Cách thực hiện biện pháp này là từng bước rút ngắn thời gian đọc của học sinh và tăng dần độ khó của nhiệm vụ. Khi đọc thầm giáo viên phải giao nhiệm vụ cụ thể, nhằm định hướng việc đọc - hiểu.
*Kết quả chuyển biến của đối tượng 
Với các biện pháp đã thực hiện, tôi đã áp dụng trong suốt năm học, qua từng giờ dạy Tập đọc, thường xuyên theo dõi chuyển biến của học sinh. Qua từng tháng, tôi nhận thấy,học sinh của mình có nhiều tiến bộ. Các em yêu thích môn học hơn, đọc bài đúng,đọc bài hay. Khi đọc các em đọc tự nhiên thoải mái, đôi lúc rất dí dỏm khi vào vai nhân. Nhiều học sinh đầu năm rất ngại lên thi đọc hay, đọc thuộc lòng nhưng sau một thời gian các em giơ tay và xin cô cho đọc và đọc rất tốt. Khả năng tiếp thu bài và nhận biết về thiên nhiên xã hội và con người được nâng cao hơn. Các em dã biết nêu suy nghĩ về bản thân về nhân vật, biết rút ra nội dung bài, biết đánh giá, cảm xúc trước hành động của nhân vật trong tác phẩm. Các em phát âm không còn lẫn lộn ở các phụ âm, vần cũng như thanhCó thể nói đây là thành công bước đầu của việc vận dụng các biện pháp trên.
–Kết quả cụ thể: 
 +Lớp học có 10 học sinh đọc hay.
 +Có 18 học sinh đọc đúng, rất thích được gọi đọc bài và thích giờ Tập đọc, các em còn thích sưu tầm những câu thơ, câu tục ngữ, câu văn hay viết vào số tay văn học của mình. Cả lớp đều mạnh dạn phát biểu.
III .KẾT LUẬN 
1.Tóm lược giải pháp 
 Quan điểm đổi mối phương pháp dạy học đã giúp giáo viên chủ động hơn, linh hoạt hơn trong việc tổ chức học sinh học tập. Bên cạnh đó, ngoài việc phải nắm vững chương trình, nội dung bài dạy thì giáo viên phải có trình độ vận dụng phương pháp; cách tiến hành, tổ chức các hình thức dạy học là hết sức quan trọng. Chính vì thế giáo viên không nên e dè, ngại khó, ngại đổi mới mà không vận dụng những phương pháp dạy học tiên tiến. Điều quan trong là giáo viên cần phải mạnh dạn tùy trình độ, đặc điểm của lớp mình mà lựa chọn áp dụng kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học tích cực để giờ Tập đọc đạt hiệu quả cao nhất.Vì mỗi bài tập đọc khi dạy đều có một quy trình chung nhưng không nhất nhất phải giống nhau mà có thể sử dụng nhiều hình thức, phương pháp khác nhau tùy theo đối tượng học sinh của mình. Điều đó muốn nói đến ở giờ Tập đọc chủ yếu là rèn cho được kỹ năng đọc, nên tạo điều kiện để các em điều tham gia đọc để bộc lộ khả năng mình. Giáo viên cần khích lệ động viên các em, cần tạo nên các em sự tự tin, mạnh dạn phát huy khả năng sẵn có. Điều đó giúp giờ học càng phong phú, thoải mái, học sinh không bị gò ép, tiếp thu bài nhẹ nhàng hơn, mang lại kết quả tốt hơn.
 Để giờ Tập đọc đạt kết quả cao, giáo viên cần phải nghiên cứu kế hoạch giảng dạy thật tỉ mỉ. Lúc học sinh đọc chú ý phát hiện những từ học sinh phát âm chưa chuẩn giúp các em phát âm lại, lưu ý cách ngắt nghỉ hơi. Giáo viên nên kiểm tra và rèn đọc nhiều cho đối tượng học sinh đạt và chưa đạt, chọn em đọc hay đọc cho cả lớp nghe. Không quên động viên các em đọc nhiều truyện sách bổ ích và sưu tầm những câu thơ, bài thơ, bài văn hay học thuộc.
2.Phạm vi đối tượng áp dụng : 
 Với sáng kiến trên, tôi đã vận dụng thành công ở lớp mình.Tôi hy vọng rằng những kinh nghiệm nhỏ trong đề tài sẽ được các anh chị giáo viên khối 4, khối 5 tham khảo, thử nghiệm trong giảng dạy Tập đọc theo định hướng đổi mới của thông tư 30 sẽ giúp các em học tốt hơn. Và mong rằng sẽ có nhiều ý kiến hay để chúng ta cùng học tập.

File đính kèm:

  • docSKKN Ren doc cho Hs lop 5_12495253.doc
Sáng Kiến Liên Quan