Phương pháp tích hợp kiến thức liên môn để giảng dạy phần III - Kĩ thuật điện - môn Công nghệ 8

Giáo dục Việt Nam xưa và nay là một chặng đường dài với nhiều thành tựu. Nhưng làm thế nào để phát triển hòa nhập với quốc tế, theo kịp với sự phát triển như vũ bão của khoa học - kĩ thuật- công nghệ và tri thức của loài người đang gia tăng nhanh chóng, làm thế nào trước kho tàng tri thức của nhân loại? Việt Nam đã đổi mới. Cùng với 30 năm đổi mới đất nước nền giáo dục Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Đổi mới giáo dục toàn diện là một lộ trình đã và đang được thực hiện cần tạo được sự đồng thuận và quyết tâm của toàn dân. Một trong những khâu then chốt của đổi mới ấy chính là đổi mới phương pháp dạy và hoc. Có nhiều phương pháp mới được áp dụng và phương pháp dạy học tích hợp đã được phát huy. Như vậy dạy học tích hợp là một yêu cầu của giáo dục hiện đại, là tất yếu trong đổi mới phương pháp dạy học. Phương pháp này đã được áp dụng từ mấy năm nay, thời gian thực hiện chưa nhiều và vẫn còn những ý kiến trái chiều nhưng bước đầu cũng đủ để giáo viên rút ra kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy.

Việc đổi mới này đã góp phần thực hiện mục tiêu chung của giáo dục hướng nghiệp và chuẩn bị phân luồng cho học sinh, một bộ phận sẽ tiếp tục học lên trung học phổ thông số còn lại các em có thể theo học giáo dục nghề nghiệp. Trên tinh thần đó môn công nghệ lớp 8 trang bị cho học sinh một số kiến thức cơ bản về vẽ kĩ thuật, cơ khí, kĩ thuật điện, gắn liền với thực tiễn và đời sống hằng ngày. Là giáo viên trực tiếp giảng dạy Công nghệ 8 tôi luôn tìm tòi vận dụng những phương pháp dạy học tích cực trong đó có phương pháp tích hợp kiến thức liên môn để giảng dạy các bài trong môn Công nghệ lớp 8, bước đầu thấy có kết quả. Bằng những kinh nghiệm của bản thân tôi xin được đưa ra đề tài: ‘‘Phương pháp tích hợp kiến thức liên môn để giảng dạy phần III - Kĩ thuật điện- môn Công nghệ 8”. Xin mạnh dạn giới thiệu, chia sẻ với đồng nghiệp.

 

doc18 trang | Chia sẻ: myhoa95 | Ngày: 29/10/2018 | Lượt xem: 443 | Lượt tải: 4Download
Bạn đang xem tài liệu "Phương pháp tích hợp kiến thức liên môn để giảng dạy phần III - Kĩ thuật điện - môn Công nghệ 8", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ợng từ sóng biển
2. Xác định nội dung tích hợp: (Trả lời câu hỏi : Trong bài dạy, nội dung nào cần phải dạy theo lối tích hợp? Cần phải tích hợp nội dung kiến thức gì của môn học nào có liên quan, tương đồng vào bài học?)
- Xác định những nội dung kiến thức trong bài cần phải tích hợp.
- Xây dựng nội dung tích hợp phù hợp với nội dung bài học: Tìm mối liên hệ
giữa nội dung cần tích hợp với các môn học liên môn. Tìm hiểu kỹ nội dung cần tích hợp và nội dung ấy liên môn với môn học nào để xây dựng kiến thức, hình ảnh thực tế với nội dung cần tích hợp cho phù hợp . 
 Đây là khâu quan trọng trong tích hợp liên môn để từ đó chỉ ra được địa chỉ tích hợp. Nếu thiếu sự lựa chọn sẽ làm biến dạng tiết học. Nên tuỳ thuộc vào từng bài mà chúng ta xây dựng nội dung tích hợp phù hợp, gần gũi với học sinh và chương trình học.
 Ví dụ: Trong bài 32- Vai trò của điện năng trong sản xuất và đời sống
- Tích hợp môn Âm nhạc: Mở đầu bài học giáo viên cho học sinh nghe bài hát
 “Tiếng gọi sông Đà”- Sáng tác Trần Chung, giới thiệu cho học sinh những gian khổ cũng như những vinh quang trong quá trình xây dựng các nhà máy điện.
 - Tích hợp địa lí: Hình ảnh một số nhà máy điện ở nước ta vào mục 2 - sản xuất điện năng 
Nhà máy nhiệt điện (Quãng Ninh) Nhà máy thuỷ điện (Hoà Bình) Lò phản ứng hạt nhân (Đà Lạt)
- Tích hợp tin học: Hoạt động của các nhà máy điện bằng hình ảnh động, 
mục 2:
- Tích hợp bảo vệ môi trường: Nội dung này được sử dụng ở cuối bài học. Ảnh hưởng của các nhà máy điện đến môi trường để giáo dục học sinh sử dụng tiết kiệm và hợp lí điện năng.
Mặc dù tro, bụi đã được tách ra khỏi dòng khói trước khi thải ra môi trường nhưng có tới 41% lượng khí CO2 thải ra môi trường là từ các nhà máy nhiệt điện.
Với ưu thế địa hình đất nước có nhiều sông, hồ có thể xây dựng được các công trình thủy điện, thế nhưng các công trình thủy điện đó tác động không nhỏ đến môi trường đó là tàn phá rừng đầu nguồn, hạn hán về mùa khô và ngập lụt về mùa mưa cho khu vực hạ lưu khi các nhà máy này xả lũ.
 Vụ tai nạn ngày 26/4/1986 tại nhà máy điện Chernobyl (Ukraine) đã gây ra thảm họa hạt nhân tồi tệ nhất trong lịch sử thế giới. Tổng số người chết liên quan đến thảm họa Chernobyl đã lên tới khoảng 200.000 người trong giai đoạn từ năm 1990 đến nay. Sự cố hạt nhân fukushima- Nhật Bản mới xảy ra gần đây, các đám mây phóng xạ đã ảnh hưởng đến nhiều nước châu Á, chất phóng xạ phát ra từ nhà máy ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sống. 
3. Lựa chọn bài học và thời điểm thích hợp trong tiến trình giảng dạy để tích hợp. 
 	Việc lựa chọn bài học, thời điểm và nội dung để tích hợp hết sức quan trọng. Một mặt nó làm cho bài dạy trở nên sinh động và có ý nghĩa, mặt khác nếu lựa chọn không phù hợp sẽ làm cho bài dạy bị đứt quãng và xa rời trọng tâm kiến thức. Vì vậy cần có phương án tích hợp để vừa đảm bảo dạy đúng, dạy đủ vừa đạt được mục tiêu giáo dục. 
Ví dụ: Trong bài 32- Vai trò của điện năng trong sản xuất và đời sống, nếu chuyển nội dung tích hợp bảo vệ môi trường “Ảnh hưởng của các nhà máy điện đến môi trường” vào từng phần ở mục 2- Sản xuất điện năng, sẽ làm giảm vai trò của điện năng trong sản xuất và đời sống.
4. Thu thập thông tin và hình ảnh trên mạng internet
 	Cách thông dụng nhất để tìm kiếm hình ảnh trên mạng là vào trang web www.google.com.vn , gõ từ khoá liên quan đến chủ đề ta đang cần tìm. Khi chọn được nội dung, hình ảnh thích hợp nên lưu lại trong một tệp tin với định dạng cỡ ảnh to nhất (khi đưa vào giáo án điện tử hình ảnh sẽ đạt chất lượng cao hơn)
5. Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại để dạy nội dung tích hợp.
Việc sử dụng máy vi tính kết hợp với máy chiếu để dạy học sẽ phát huy cao tính trực quan của bài dạy. Đặc biệt phần tích hợp bảo vệ môi trường đòi hỏi không chỉ cung cấp kiến thức, kĩ năng mà quan trọng là hình thành ở học sinh thái độ trước các vấn đề về môi trường, điều này sẽ đạt được hiệu quả cao khi các em được chứng kiến những hình ảnh về thực trạng cũng như hậu quả của ô nhiễm môi trường. Mặt khác đối với môn Công nghệ có những nội dung khó hoặc không quan sát được bằng thực tế thì có thể cho học sinh quan sát bằng hình ảnh máy chiếu.
Ví dụ: - Trong bài 32- Vai trò của điện năng trong sản xuất và đời sống, cho học sinh quan sát hoạt động của các nhà máy điện bằng hình ảnh động.
- Trong bài 35 - Thực hành: Cứu người bị tai nạn điện, cho học sinh quan sát clip các bước sơ cứu người bị tai nạn điện. 
Video “sơ cứu người tai nạn điện” trên You Tube
6. Những nguyên tắc trong dạy học tích hợp:
- Đảm bảo mục tiêu bài học, biết tích hợp vừa đủ kiến thức các môn có liên quan, tránh trùng lặp, nặng nề, cũng không xem nhẹ bỏ qua. 
- Không biến giờ học môn Công nghệ thành các môn vật lí, hoá học, giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục kĩ năng sống... và ngược lại.
7. Ví dụ thực tiễn trong quá trình áp dụng phương pháp mới trong dạy học 
phần III- Kĩ thuật điện- Công nghệ 8, bài giảng mẫu:
 Tiết 31: VẬT LIỆU KĨ THUẬT ĐIỆN
7.1. Mục tiêu dạy học:
a. Kiến thức:
- Môn Công nghệ
 + HS nhận biết được vật liệu dẫn điện, vật liệu cách điện, vật liệu dẫn từ. 
 + Hiểu được đặc tính và công dụng của mỗi loại vật liệu kĩ thuật điện.
 - Môn Vật lí:
 + Khái niệm về chất dẫn điện, chất cách điện.
 + Hiểu thêm về tính chất từ của dòng điện.
 + Hiểu được thế nào là vật liệu bán dẫn.
 - Môn Hoá học:
 + Lấy được ví dụ về ứng dụng của oxit, axit dùng làm vật liệu dẫn điện.
 + Hiểu được trong nước mưa có các axit.
 - Môn Địa lí:
 + Lấy được ví dụ những nơi có khai thác khoáng sản như quặng bôxit, quặng 
 sắt, quặng đồng...ở nước ta.
b. Kĩ năng:
- Kĩ năng môn học:
 + Rèn kĩ năng phân biệt và nhận biết các loại vật liệu kĩ thuật điện.
 + Kỹ năng lựa chọn vật liệu phù hợp khi sử dụng.
 - Kỹ năng sống:
 + Rèn kĩ năng quan sát, nhận biết, kĩ năng thu thập và xử lí thông tin.
 + Kĩ năng hợp tác ứng xử, giao tiếp trong khi thảo luận.
 + Kĩ năng thoát hiểm khi có trời mưa giông 
 c. Thái độ:
 - HS học tập nghiêm túc, tự giác, tích cực hoạt động.
 - Có ý thức sử dụng hợp lí điện năng và các loại vật liệu kĩ thuật điện tránh lãng phí, bảo vệ môi trường.
 - Giáo dục các em sự yêu thích bộ môn. Học sinh có thái độ nghiêm túc trong học tập và nghiên cứu các vấn đề tổng hợp.
7.2. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh:
a. Chuẩn bị của giáo viên: 
- Nghiên cứu kĩ nội dung bài 36 trong SGK và SGV.
- Soạn bài giáo án Word và giáo án Powerpoint.
- Chuẩn bị thiết bị đồ dùng dạy học.
b. Chuẩn bị của học sinh:
- Học sinh : Học bài cũ và soạn bài.
c. Những dữ liệu tích hợp sử dụng trong bài:
- Hình ảnh các ứng dụng của các loại vật liệu kĩ thuật điện.
- Các thí nghiệm ảo để kiểm chứng về vật liệu dẫn điện, cách điện và dẫn từ.
- Hình ảnh về kĩ năng thoát hiểm khi có trời mưa giông.
- Hình ảnh về vật liệu bán dẫn.
- Hình ảnh lược đồ khoáng sản Việt Nam, khai thác khoáng sản.
- Hình ảnh tái chế bình acquy.
- Thí nghiệm vật lí được sử dụng trong bài: Thí nghiệm kiểm tra vật liệu dẫn điện, vật liệu cách điện, vật liệu dẫn từ (thí nghiệm chuông điện).
d. Kiến thức liên môn sử dụng trong bài: 
 - Vật lí, Hoá học, Địa lí, giáo dục kĩ năng sống, Giáo dục bảo vệ môi trường.
7.3. Phương pháp:
- Phương pháp : Đàm thoại, phân tích, tổng hợp tư duy kiến thức, tích hợp...
7.4. Tiến trình dạy học:
b. Giới thiệu chương:
 - GV: Giới thiệu tổng quan về nội dung chương VII.
 c. Bài mới:
Giới thiệu bài: Trong đời sống, các đồ dùng điện gia đình, các thiết bị điện, các dụng cụ bảo vệ an toàn điện  đều làm bằng vật liệu kĩ thuật điện. Vậy vật liệu kĩ thuật điện được phân thành những loại nào? Mỗi loại có đặc tính và công dụng gì? Chúng ta sẽ cùng nghiên cứu những vấn đề này trong bài học ngày hôm nay. 
HĐ 1: TÌM HIỂU VẬT LIỆU DẪN ĐIỆN:
HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN
HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH
- GV: Vật liệu kĩ thuật điện chia làm 3 loại: Vật liệu dẫn điện, vật liệu cách điện, vật liệu dẫn từ.
- GV: Kẻ bảng để phân loại vật liệu kĩ thuật điện lên trên bảng.
- HS: Quan sát hình ảnh.
- HS: Kẻ bảng theo sự hướng dẫn của GV
GV tích hợp kiến thức vật lí 7 làm thí nghiệm
- GV: Yêu cầu HS quan sát thí nghiệm do GV thực hiện và quan sát sơ đồ trên màn máy chiếu và đặt câu hỏi:
? Có hiện tượng gì xảy ra nếu chúng ta kẹp thanh đồng vào hai đầu của mạch điện?
- GV: Kiểm chứng.
- GV tích hợp kiến thức tin học: cho HS quan sát hình ảnh thí nghiệm ảo trên màn chiếu
- GV: Thanh đồng cho dòng điện chạy qua nên thanh đồng là một loại vật liệu dẫn điện. Vậy theo em thế nào là vật liệu dẫn điện?
- GV (kết luận vào bảng): Vật liệu dẫn điện là vật liệu mà dòng điện có thể truyền qua được.
- GV: Đồng là vật liệu dẫn điện nên đồng có đặc tính là dẫn điện.
GV vận dụng kiến thức vật lí 7 làm thí nghiệm
- GV: Làm thí nghiệm đối với thanh nhôm và kết luận nhôm cũng là vật liệu dẫn điện, nhôm cũng có đặc tính dẫn điện.
? Vật liệu dẫn điện có đặc tính gì?
- GV: Đặc trưng về mặt cản trở dòng điện của vật liệu dẫn điện là điện trở suất. Điện trở suất của vật liệu dẫn điện khoảng 10-6 đến 10-8Ωm thì dẫn điện tốt.
- GV (kết luận vào bảng): Đặc tính của vật liệu dẫn điện là dẫn điện tốt.
- GV: Giới thiệu về bảng điện trở suất của một số vật liệu trên màn máy chiếu và bổ sung thông tin: Vật liệu có điện trở suất càng nhỏ thì dẫn điện càng tốt.
? Vật liệu nào dẫn điện tốt nhất?
- GV: Bạc là kim loại dẫn điện tốt nhất.
? Quan sát hình 36.1 sgk cho biết phần tử nào trên hình dẫn điện ?
- GV cho HS quan sát tranh vẽ trong SGK (có cả trên màn chiếu) và vật mẫu chỉ rõ các phần tử dẫn điện ?
? Vật liệu dẫn điện có công dụng gì?
- GV (kết luận vào bảng): Vật liệu dẫn điện dùng để chế tạo các phần tử ( bộ phận) dẫn điện.
? Kể tên 1 số vật liệu dẫn điện mà em biết ?
- GV kết luận vào bảng.
- GV: giới thiệu (hình ảnh trên màn chiếu) về ứng dụng của vật liệu dẫn điện.
 Các loại dây dẫn điện Vi mạch điện tử tráng bạc 
 Bình acquy
- HS: Theo dõi GV giới thiệu và quan sát thí nghiệm.
- HS: Ghi bài vào vở.
- HS: Quan sát thí nghiệm và trả lời câu hỏi.
- HS: Tìm hiểu thông tin trả lời câu hỏi.
- HS: Hoàn thành vào vở.
- Nghiên cứu bảng và theo dõi giáo viên giới thiệu.
- HS: Suy nghĩ trả lời.
- HS: Theo dõi GV giới thiệu.
- HS: Chỉ cụ thể các phần tử dẫn điện của phích cắm, ổ điện.
- HS: Trả lời.
- HS: Hoàn thành vào vở.
- HS: Kể tên các vật liệu dẫn điện theo bảng, theo hiểu biết.
- Theo dõi và nghi nhớ kiến thức.
- HS theo dõi, trả lời câu hỏi.
HĐ 2: TÌM HIỂU VẬT LIỆU CÁCH ĐIỆN:
HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN
HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH
GV tích hợp kiến thức vật lí 7 làm thí nghiệm
- GV: Yêu cầu HS quan sát thí nghiệm do GV thực hiện và quan sát sơ đồ trên màn máy chiếu và đặt câu hỏi:
? Có hiện tượng gì xảy ra nếu chúng ta kẹp thanh nhựa vào hai đầu của mạch điện?
- GV: Kiểm chứng.
- GV tích hợp kiến thức tin học: cho HS quan sát hình ảnh thí nghiệm ảo trên màn chiếu.
- GV: Thanh nhựa không cho dòng điện chạy qua nên thanh nhựa là một loại vật liệu cách điện. Vậy theo em thế nào là vật liệu cách điện?
- GV (kết luận vào bảng): Vật liệu cách điện là vật liệu không cho dòng điện chạy qua.
- GV: Nhựa là vật liệu cách điện nên nhựa có đặc tính là cách điện.
GV tích hợp kiến thức vật lí 7 làm thí nghiệm
- GV: Làm thí nghiệm đối với thanh cao su và kết luận cao su cũng là vật liệu cách điện, cao su cũng có đặc tính cách điện.
? Vật liệu cách điện có đặc tính gì?
- GV: Điện trở suất của vật liệu cách điện rất lớn khoảng 108 đến 1013Ωm.
- GV (kết luận vào bảng): Đặc tính của vật liệu cách điện là cách điện tốt.
- GV: Giới thiệu về bảng điện trở suất của một số vật liệu trên màn máy chiếu và bổ sung thông tin: Vật liệu có điện trở suất càng lớn thì cách điện càng tốt.
GV vận dụng kiến thức vật lí 7 đặt câu hỏi:
? Vật liệu nào cách điện tốt nhất? Tại sao?
- GV: Sứ là vật liệu cách điện tốt nhất. Sứ có điện trở suất lớn nhất.
? Tại sao các kim loại dẫn điện tốt còn phi kim hầu hết không dẫn điện.
- GV cho HS quan sát tranh vẽ hình 36.1 sgk (hình ảnh có trên màn chiếu) và vật mẫu chỉ rõ các phần tử cách điện?
? Vật liệu cách điện có công dụng gì?
- GV (kết luận vào bảng): Vật liệu cách điện dùng để chế tạo các phần tử ( bộ phận) cách điện.
? Kể tên 1 số vật liệu cách điện mà em biết ?
- GV kết luận vào bảng.
- GV: cho HS quan sát một số hình ảnh về ứng dụng của vật liệu cách điện:
 Sứ cách điện Cao su cách điện
Vỏ công tắc, vỏ ổ cắm bằng nhựa
GV tích hợp kiến thứ vật lí, kiến thức hoá học đặt câu hỏi: ? Không khí là vật liệu dẫn điện hay cách điện? Giải thích tại sao?
- GV giải thích bổ sung bằng kiến thức vật lí và hoá học cùng hiểu biết thực tế: ở điều kiện bình thường thì không khí là vật liệu cách điện, nên điện không dẫn từ dây trần, hay 2 lỗ của ổ điện xuống đất được. Có 2 trường hợp không khí trở thành vật liệu dẫn điện:
 + Môi trường không khí ẩm ướt do mưa, trong nước mưa có chứa axit H2SO3 hay H2SO4 đây là những chất dẫn điện. Nên không khí thành vật liệu dẫn điện.
+ Hoặc điện áp của nguồn điện quá lớn như nguồn sét chẳng hạn. Điện áp của tia sét tạo ra do va chạm giữa mây và mặt đất dao động từ 100 triệu đến 1 tỉ Vôn.
- GV hình thành kỹ năng sống: Chính vì thế chúng ta không nên đứng dưới đường dây dẫn điện hay trú mưa dưới các tán cây to khi trời mưa giông. Khi đó không khí trở thành vật liệu dẫn điện sẽ dẫn luồng sét từ các đám mây giông xuống mặt đất (Hình ảnh trên màn chiếu) sẽ rất nguy hiểm.
Không nên đứng dưới đường dây dẫn điện khi
có mưa giông
Không nên đứng dưới cây cao khi có mưa giông
- GV tích hợp kiến thức vật lí (lớp 11) để GD sử dụng nguồn năng lượng Mặt Trời, tiết kiệm điện năng – tích hợp bảo vệ môi trường: Vật liệu bán dẫn ở nhiệt độ thấp không dẫn điện. Nhưng nếu tác dụng nhiệt độ, ánh sáng hoặc có thêm tạp chất thì trở thành chất dẫn điện. Silic (Si) và Gecmani (Ge) là 2 nguyên tố bán dẫn được sử dụng rộng rãi hiện nay.
- GV giới thiệu về ứng dụng của vật liệu bán dẫn:
 + Sử dụng pin năng lượng Mặt Trời, nguồn năng lượng sạch.
Pin mặt trời
+ Sử dụng đèn LED: Nhiệt độ làm việc của bóng đèn LED cao hơn nhiệt độ môi trường khoảng 5 – 8o C, thấp hơn so với đèn huỳnh quang thông thường là khoảng 13 – 25o C. Đèn LED có hiệu suất sáng cao hơn, do đó tiết kiệm khoảng 75% điện năng so với các đèn chiếu sáng thông thường. Đèn LED công suất tiêu thụ 1,5W có độ sáng tương tự như bóng sợi đốt 40W. Đèn LED có tuổi thọ rất cao vượt qua 50.000 giờ (tương đương với 6 năm thắp sáng liên tục). không chứa thủy ngân và những chất có hại (như trong đèn huỳnh quang) không nhấp nháy, không gây nhức mỏi mắt.
Cấu tạo chíp đèn LED có sử dụng vật liệu bán dẫn
Đèn LED dùng để trang trí và để chiếu sáng
- HS: Quan sát thí nghiệm và trả lời câu hỏi.
- HS: Tìm hiểu thông tin trả lời câu hỏi.
- HS: Hoàn thành vào vở.
- HS: Theo dõi GV giới thiệu và quan sát thí nghiệm.
- HS: trả lời.
- HS: Theo dõi GV giới thiệu.
- HS: hoàn thành vào vở.
- HS: Trả lời Sứ là vật liệu cách điện tốt nhất.
- HS: Tìm hiểu thông tin, trả lời câu hỏi vì 
phi kim có điện trở suất lớn.
- HS: Quan sát hình ảnh, chỉ phần tử cách điện của phích cắm, ổ cắm.
- HS: Trả lời.
- HS: Hoàn thành bài vào vở.
- HS: Kể tên các vật liệu cách điện theo bảng, theo hiểu biết.
- Theo dõi và nghi nhớ kiến thức.
- HS: Vận dụng kiến thức vật lí, hoá học và hiểu biết thực tế trả lời - không khí ở điều kiện thường không dẫn điện. Trong một số trường hợp không khí dẫn điện.
- HS: Theo dõi, ghi nhớ.
- HS: Theo dõi GV giới thiệu.
Củng cố và tích hợp môn địa lí, tích hợp bảo vệ môi trường:
- GV giới thiệu quá trình khai thác khoáng sản: Các vật liệu kim loại như nhôm, đồng, thép...không có sẵn mà phải thông qua quá trính khai thác khoáng sản từ các mỏ quặng bô-xít (ở Đắc Nông, Lâm Đồng, Gia Lai, Bình Phước), quặng sắt (Lào Cai, Hà Tĩnh, Thanh Hoá...), quặng đồng (Cao Bằng, Lạng Sơn, Sơn La, Quảng Ninh, Quảng Nam-Đà Nẵng, Lâm Đồng.). Nếu quá trình đó tràn lan, không đúng quy trình sẽ làm cạn kiệt nguồn tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường. Chính vì thế chúng ta phải hiểu rõ đặc tính của từng loại vật liệu kĩ thuật điện để lựa chọn và sử dụng chúng một cách hợp lí và hiệu quả nhất.
Lược đồ khoáng sản Việt Nam (Địa lí 8)
Một số hình ảnh khai thác khoáng sản gây ô nhiễm môi trường
Ngoài ra các đồ dùng điện, thiết bị điện khi hư hỏng phải biết thu gom, tái chế tránh gây ô nhiễm môi trường như bình acquy, đèn huỳnh quang
Hình ảnh tái chế bình acquy chưa đúng quy trình
- GV hướng dẫn nhóm HS làm bài tập SGK bảng 36.1; Điền đặc tính và công dụng của các loại vật liệu.
- GV: Chuẩn bị một số vật liệu dẫn điện, cách điện, dẫn từ yêu cầu nhóm HS
chọn được vật liệu gì thì nhận biết loại vật liệu đó?	
e. Dặn dò và bài tập về nhà:
- GV: Yêu cầu HS về nhà làm bài tập đầy đủ.
- Tìm hiểu bài 38
7.5. Rút kinh nghiệm
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC, VỚI BẢN THÂN, ĐỒNG NGHIỆP VÀ NHÀ TRƯỜNG
Năm học 2015- 2016 sau khi lên kế hoạch bản thân đã vận dụng linh hoạt đề tài : ‘‘Phương pháp tích hợp kiến thức liên môn để giảng dạy phần III - Kĩ thuật điện- môn Công nghệ 8” vào đối tượng học sinh lớp 8 trường THCS Yên Tâm. Kết quả khảo sát cho thấy các em đã có ý thức học tập tốt trong giờ công nghệ. Khi các em có, chắc kiến thức, vật lí, hoá học, địa lí, .... các em hiểu rõ bản chất của vấn đề từ đó giải quyết vấn đề dễ hiểu hơn rất nhiều. Tạo cho các em thói quen và kĩ năng tự học, tự nghiên cứu và đặc biệt luôn biết khai thác kiến thức đã có để giải quyết một vấn đề mới. Đó cũng là yêu cầu mà môn học nào cũng đặt ra. Mặt khác, dạy tích hợp trong môn Công nghệ cũng tạo ra cho giáo viên thói quen luôn tự làm mới mình, biết kết hợp các phương pháp dạy học để bài học đạt hiệu quả cao nhất.
Kết quả kiểm nghiệm qua các năm học như sau:
- Chất lượng điểm bài kiểm tra phần kĩ thuật điện năm học 2014-2015 khi chưa được áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
- Tỉ lệ học sinh khá giỏi tăng lên rỗ rệt
- Từ kết quả trên chúng ta có thể nhận thấy rõ ràng được hiệu quả của viêc áp dụng SKKN này vào quá trình giảng dạy. Tổng % điểm Khá - Giỏi từ chỉ chiếm 52,9 % năm học 2014 – 2015 tăng lên 75% năm học 2015 – 2016; tổng % điểm yếu kém từ 5,7% năm học 2014 – 2015 giảm xuống chỉ còn 1,8% năm học 2015 – 2016. Từ kết quả đó đã nâng cao chất lượng dạy và học trong toàn trường
C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN:
Nhìn chung SKKN đã được tiến hành, thử nghiệm đúng quy trình, có sự quan tâm góp ý của đồng nghiệp. Do đó, bước đầu Tôi đánh giá là thành công. Một là tạo ra được phong trào thi đua vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết một vấn đề, tích hợp được nội dung kiến thức. Hai là tạo ra không khí sôi nổi trong sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn, góp phần tự bồi dưỡng cho mỗi giáo viên bộ môn. Ba là SKKN tạo cái nhìn mới, cách nghĩ mới trong việc làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục. Và quan trọng nhất là trong quá trình áp dụng sáng kiến mới của mình tôi nhận thấy học sinh không chỉ hiểu bài mà còn rất hăng say học tập sôi nổi, chủ động và tích cực hơn, hứng thú tham ra thảo luận trong và sau mỗi giờ học. Điều lớn nhất mà sáng kiến đem lại đó chính là các em không chỉ tích cực trong giờ học mà còn dành thêm nhiều thời gian cho môn học.
Để có thể đạt được kêt quả cao nhất đòi hỏi giáo viên phải chuẩn bị kĩ trước giờ dạy, như:
 1. Nghiên cứu kĩ nội dung bài học.
2. Nghiên cứu những môn học, những tài liệu khác có liên quan đến bài học.
3. Lựa chọn những nội dung tích hợp phù hợp với nội dung bài học.
4. Khi tích hợp phải đảm bảo đúng đủ nội dung, đúng thời điểm tích hợp mà vẫn đảm bảo mục tiêu bài học.
 5. Chuẩn bị tốt giáo án và đồ dùng dạy học trước mỗi giờ học.
 7. Thu thập, xử lí những thông tin, hình ảnh có liên quan đến nội dung từng bài học, tài liệu cần phải sinh động và có sức thuyết phục.
 8. Trình bày các thông tin hình ảnh bằng máy chiếu projecter để bài học thêm sinh động.
II. KIẾN NGHỊ
Để tổ chức được các hoạt động đó chúng tôi rất cần có thêm những tài liệu bổ sung và hướng dẫn thực hiện cụ thể, khắc phục và bổ sung thêm một số trang thiết bị, cơ sở vật chất cho đầy đủ hơn.
Cần tổ chức các hội nghị trao đổi kinh nghiệm dạy học, mở thêm các lớp tập huấn về nội dung tích hợp liên môn vào giảng dạy.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

File đính kèm:

  • docskkn_mon_cong_nghe_8_hay_337.doc