Phương pháp dạy ngữ âm Tiếng Anh cho học sinh tiểu học

Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu ngày càng sâu rộng hiện nay, Tiếng Anh là một ngôn ngữ quan trọng. Nó là chìa khóa để giúp chúng ta tiếp cận được những tinh hoa, tiến bộ về văn hóa, giáo dục, khoa học, kĩ thuật và rất nhiều lĩnh vực khác của nhân loại. Bởi vậy, nó là ngôn ngữ thứ hai, là môn học bắt buộc của nhiều quốc gia trên toàn thế giới. Theo dự báo của các nhà phân tích, vào cuối thập kỷ này, hơn 1/3 dân số thế giới sẽ tham gia vào việc học tiếng Anh. Nhu cầu học tiếng Anh mang tính toàn cầu này đã cho thấy Tiếng Anh vô cùng quan trọng và cần thiết đối với việc phát triển kinh tế và xã hội ở tầm cỡ quốc gia cũng như đối với mỗi cá nhân trong xã hội.

 Từ yêu cầu thực tế đó, môn Tiếng Anh đã được đưa vào chương trình chính khóa của mọi cấp học ở nước ta. Mục tiêu cuối cùng của việc dạy và học Tiếng Anh là học sinh có thể giao tiếp được bằng tiếng Anh. Khả năng giao tiếp thể hiện trên hai bình diện: tiếp nhận (nghe và đọc) và sản sinh (nói và viết) ngôn ngữ. Tuy nhiên để đạt được mục tiêu cuối cùng đó yếu tố đầu tiên học sinh cần nắm vững là ngữ âm (pronunciation).

 Ngữ âm được coi là một trong những yếu tố cơ sở của tất cả các ngôn ngữ trên thế giới. Nếu phát âm chính xác thì mọi kĩ năng như nghe, nói, đọc sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Ngược lại, nếu phát âm sai hoặc không rõ ràng sẽ làm cho người nghe hiểu nhầm hoặc thậm chí không hiểu ý của người nói.

 Xác định được tầm quan trọng đó nên việc dạy và học ngữ âm đã được đưa vào trong chương trình Tiếng Anh cấp tiểu học. Tuy nhiên đa số học sinh còn ngỡ ngàng và gặp nhiều khó khăn khi phát âm và ghi nhớ các âm đã học, trong khi đó việc khai thác và sử dụng các tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy của giáo viên và học tập ngữ âm của học sinh còn hạn chế.

 

doc20 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 29/07/2015 | Lượt xem: 15357 | Lượt tải: 298Download
Bạn đang xem tài liệu "Phương pháp dạy ngữ âm Tiếng Anh cho học sinh tiểu học", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g phiên âm Tiếng Anh quá mới lạ và phức tạp. Trong Tiếng Việt, chỉ cần học thuộc bảng chữ cái là cơ bản học sinh có thể phát âm được tất cả các từ nhưng trong Tiếng Anh có rất ít mối liên hệ giữa bảng chữ cái và cách phiên âm. Chỉ có 26 chữ cái nhưng trong khi đó lại có tới 44 âm gồm cả nguyên âm và phụ âm. Một chữ cái có thể được đọc bằng 2 âm (th: /θ/hoặc /ð/). Ngược lại nhiều từ có thể phát cùng âm giống nhau (phone / fun / laugh ).
 	Bên cạnh đó, một vài âm trong Tiếng Anh không tồn tại trong tiếng việt nên học sinh gặp rất nhiều khó khăn khi phát những âm này. Khi gặp khó khăn, học sinh ngại phát âm vì sợ sai dẫn đến ngại đọc, ngại nói; càng ít đọc, ít nói thì càng đọc sai, nói sai. 
III. PHƯƠNG PHÁP DẠY NGỮ ÂM
1. Quy trình của bài dạy ngữ âm 
 Một giờ học ngữ âm sẽ thực sự hiệu quả nếu giáo viên thực hiện theo quy trình dạy rõ ràng, cụ thể làm cho các âm tiết trở nên dễ dàng tiếp nhận đối với học sinh. Bởi vậy, một bài dạy ngữ âm nên chia thành 3 phần như sau:
1.1. Presentation
- Giáo viên đọc từ có chứa âm đang học, học sinh lắng nghe.
Ví dụ: Dạy âm /ɔ:/ giáo viên đoc : draw (Unit 12 lesson 2, SGK Tiếng Anh 5, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam)
- Giáo viên hướng mặt về phía học sinh đọc âm (ví dụ: /ɔ:/) một vài lần cốt để học sinh có thể nghe rõ và quan sát được cử động miệng, môi, răng, lưỡi của giáo viên khi phát âm này.
- Giáo viên đọc một vài từ có chứa âm đang học, học sinh đọc theo.
Ví dụ: law/ saw/ paw
- Giáo viên viết các từ lên bảng.
- Giáo viên miêu tả cách phát âm (vị trí của lưỡi, môi, răng). Giáo viên treo sơ đồ biểu thị vị trí của lưỡi, môi, răng khi phát âm và giảng giải cụ thể sao cho học sinh hiểu.
- Yêu cầu học sinh đồng thanh nhắc lại các từ trên bảng, (ví dụ: law, saw, paw) sau đó gọi từng nhóm nhắc lại. Cuối cùng giáo viên gọi một số học sinh nhắc lại.
- Theo đúng tiến trình trên, giáo viên giới thiệu âm thứ hai.
Ví dụ: Giáo viên thực hiện theo quy trình trên khi giới thiệu âm /ɑ:/ (Unit 12 lesson 2, Tiếng Anh 5)
- So sánh đối chiếu sự khác nhau khi phát âm thứ hai với âm thứ nhất.
 Ví dụ: giáo viên giải thích sự khác biệt về vị trí lưỡi, môi, răng khi phát âm hai âm /ɔ:/ và /ɑ:/ 
- Học sinh chia thành các nhóm, nhắc lại hai âm (isolated sounds) theo giáo viên hoặc theo băng. 
1.2. Practice
 	Trong phần này học sinh nên được thực hành phát âm mới theo thứ tự từ từ (isolated words) đến cụm từ (short phrases) đến câu (sentences) và đến đoạn hội thoại (dialogue).
- Giáo viên đọc các cặp từ và học sinh lắng nghe để nhận diện âm mà giáo viên đọc là âm nào. Sau đó lần lượt cả lớp nhắc lại các cặp từ, rồi nhắc lại theo nhóm và cuối cùng nhắc lại cá nhân.
Ví dụ: Khi dạy 2 âm /eʊ/ và /ɒ/ (Unit 18 Lesson 2, SGK Tiếng Anh lớp 5, nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam) giáo viên đọc các cặp từ: go/ got; no/ not; close/ lot  Häc sinh l¾ng nghe vµ ®äc l¹i theo gi¸o viªn.
- Học sinh thực hành đọc các cụm từ có chứa âm đang học.
Ví dụ: go home /a hot holliday/ lots of ropes  
- Học sinh thực hành đọc các câu (trong câu có nhiều từ chứa âm đang học).
Ví dụ: Well, it’s hot. It hasn’t got many farms./ How do you go to your hometown? 
- Học sinh nhìn, nghe và nhắc lại theo giáo viên hoặc theo băng một đoạn hội thoại ngắn trong đó có nhiều từ chứa âm đang học. Các bài hội thoại này thường đã có trong sách giáo khoa.
- Học sinh trình bày lại đoạn hội thoại theo cặp (sau khi đã đọc thành thạo nếu còn thời gian học sinh có thể thêm một vài từ có chứa âm đang học vào đoạn hội thoại nhưng các từ đó phải phù hợp nghĩa với bài).
- Trong quá trình học sinh thực hành, Giáo viên theo dõi và chưa kịp thời nếu học sinh mắc lỗi.
1.3. Production
 	Giáo viên cung cấp cho học sinh trò chơi hoặc các hoạt động để cũng cố lại kiến thức. Một số trò chơi đơn giản nhưng hiệu quả và dễ thực hiện như:
Silent Sounds: Ví du: khi dạy hai âm /e/ và /æ/, giáo viên viết lên bảng:
Giáo viên hướng mặt về phía học sinh, phát âm nhưng không thành tiếng. Học sinh quan sát cử động miệng của giáo viên (cử động của lưỡi, môi, răng) và đoán giáo viên đang nói âm gì và chỉ vào âm đó trên bảng. Sau đó giáo viên chia học sinh thành các nhóm từ 2 đến 3 người cùng chơi như trên.
- Bingo: Đây là một trò chơi đơn giản nhưng rất dễ gây hứng thú cho học sinh. Có nhiều cách tiến hành trò chơi này. Sau đây tôi xin đưa ra một ví du.
Khi dạy âm /i:/ và /I/, giáo viên cho học sinh tự kẻ bảng gồm 12 -> 14 ô, học sinh lựa chọn và tự điền vào tất cả các ô nhưng con số từ 13 đến 99 sao cho hết tất cả các ô. Giáo viên (hoặc một học sinh trong lớp) đọc lần lượt các số, học sinh lắng nghe và quan sát nếu số nghe được có trong bảng của mình thì gạch số đó. Người nghe và gạch được hết các ô của mình đầu tiên thì nói to : Bingo. Giáo viên kiểm tra độ chính xác và tuyên bố người đó chiến thắng.
- Same or Different: Giáo viên viết phiên âm quốc tế lên bảng (ví dụ: /I/)
Giáo viên nói một chuỗi các âm tương tự với âm trên bảng (/i:/,/e/,/æ/). Học sinh lắng nghe và cho biết liệu các âm trên giống hay khác với âm trên bảng.
- One or Two (or three): Giáo viên viết lên bảng hai (hoặc ba) phiên âm quốc tế (ví dụ: 1 /I/, 2 /i:/, 3 /e/ sau đó lần lượt đọc các từ: fifteen/ fifty/ bit/ beat/ eat/ it/ man/ men) để học sinh nghe và nói “one” (1), “two” (2) hay “three” (3).
- Correct or incorrect: Giáo viên viết một hay một chuỗi các từ lên bảng và phát âm một số từ trên đúng và một số từ sai. Học sinh lắng nghe và nói “correct” (đúng) hay “incorrect” (sai).
- Word Elicitation: Viết phiên âm quốc tế lên bảng và yêu cầu học sinh liệt kê từ mà âm đó đứng đầu, từ mà âm đó đứng giữa, và từ mà âm đó đứng cuối.
- Minimal Pairs: Viết phiên âm quốc tế lên bảng và cho học sinh thoải mái liệt kê các cặp từ gần giống nhau.
Ví dụ: /I/ /i:/
 	Fifty Fifteen
 	It eat
 	Bin bean
 	Ill eel ..
- Missing words: Giáo viên đọc một câu hoặc một cụm từ ngắn trong đó có một từ để trống. Học sinh lắng nghe và đoán từ để điền vào chỗ trống, miễn sao từ đó phải chứa âm đang học.
Ví dụ: Thực hành âm /3:/
A boy and a  (girl)
First, second and .... (third)
A pigeon is a kind of . (bird)
- Sentences Construction: Giáo viên viết lên bảng hai nhóm các từ có chứa âm đang học và yêu cầu học sinh đặt câu có sử dụng ít nhất hai từ trong hai nhóm đó.
Ví dụ: Thực hành âm /ɔ:/ và /æ/ (SGK Tiếng Anh lớp 5 tập 1, Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam) Unit 8 – Lesson 2
Nhóm 1: tall/small/fall/volleyball/talk.
Nhóm 2: bad/bag/dad/Saturday/family.
- Picture identification: Giáo viên có thể vẽ hoặc treo một bức tranh có hai sự vật lên bảng,chẳng hạn khi dạy hai âm /i:/ và /I/ giáo viên giới treo bức tranh
 	Sau đó giáo viên nói “point to the ship” (Hãy chỉ vào chiếc thuyền) hay “point to the sheep” (Hãy chỉ vào con cừu), học sinh lắng nghe và thực hiện. Giáo viên chỉ vào từ ship và sheep cho học sinh phát âm chính xác. Sau đó giáo viên xóa từ và chỉ vào bức tranh cho học sinh phát âm đúng. 
Chú ý: Đối với những âm đôi, phương pháp dạy cũng tương tự, nhưng giáo viên nên phân chia nó thành hai âm đơn cho học sinh thực hành. Sau đó kết hợp hai âm đơn lại thành một âm đôi.
Ví dụ: Khi dạy âm: /br/ brick
 /b/ bid, big, bill -> /r/ ring, rich, rid -> /br/ brick, bring, bridge 
2/ Bài dạy áp dụng:
2.1. Bài dạy 1
TIẾNG ANH LỚP 4 Unit 11 My Daily Activities 
 Lesson 2: Part 1, 2
 	Trong bài này học sinh học cách phát âm 2 âm /i:/ và /I/. Bằng việc áp dụng phương pháp trên, tôi tiến hành bài dạy này theo quy trình sau:
Presentation 
- Giáo viên nói từ fifteen, học sinh im lặng lắng nghe.
- Giáo viên hướng mặt về phía học sinh và nói âm /i:/ hai hoặc ba lần cốt để học sinh có thể nghe và quan sát miệng của giáo viên khi đọc âm đó.
- Giáo viên đọc các từ có chứa âm /i:/ như: teen/ eat/ seat, fifteen học sinh nghe và đọc theo giáo viên.
- Giáo viên viết các từ lên bảng 
 - Giáo viên treo tranh miêu tả cách đọc âm /i:/ và giải thích cách đọc âm này: 
 	-> Lưỡi đưa hướng lên trên và ra phía trước, khoảng cách môi trên và môi dưới hẹp, mở rộng miệng sang hai bên. Khi phát âm âm này miệng hơi bè một chút, giống như đang mỉm cười.
- Học sinh đồng thanh nhắc lại các từ trên bảng, sau đó giáo viên yêu cầu từng nhóm nhắc lại, cá nhân nhắc lại.
- Theo đúng tiến trình trên giáo viên giới thiệu âm /I/. Giáo viên đọc từ fifty, học sinh lắng nghe.
- Giáo viên hướng mặt về phía học sinh nói âm /I/ cốt để học sinh có thể nghe và quan sát được miệng của giáo viên khi phát âm này.
- Giáo viên nói một vài từ có chứa âm /I/ như: ty/ it/ sit/ fifty học sinh đọc theo.
- Giáo viên viết các từ lên bảng.
- Giáo viên treo sơ đồ cách đọc âm /I/ và giảng giải cách phát âm /I/ 
 	 -> Lưỡi hướng lên trên và đưa ra phía trước, khoảng cách môi trên và dưới hẹp, mở rộng miệng sang hai bên.
- Giáo viên dùng các bức tranh chỉ ra cho học sinh các cử động miệng khác nhau khi phát ra hai âm /i:/ và /I/: khi phát âm /I/, vị trí lưỡi thấp hơn, khoảng cách môi trên và môi dưới rộng hơn và miệng mở rộng sang hai bên nhưng hẹp hơn một chút so với âm /i:/. Âm /i:/ phát dài hơi hơn âm /I/.
- Chia học sinh thành 4 nhóm, nhắc lại và thực hành phát 2 âm /i:/ và /I/.
Practice
- Giáo viên đọc teen/ ty/ eat/ it/ seat/ sit/ fourteen/ forty/ thirteen/ thirty/ eighty/ eighteen theo thứ tự đảo lộn, học sinh lắng nghe để nhận diện /I/ hay /i:/ và đồng thanh nhắc lại các từ trên, sau đó lần lượt nhắc lại theo nhóm rối cá nhân.
- Học sinh nhắc lại theo giáo viên và thực hành đọc các cụm từ: very happy/ six thirty/ fifteen teams/ eat this meat.
- Học sinh nhắc lại theo giáo viên và thực hành đọc câu: 
 It is six fifteen, Linda is thirsty and hungry.
- Giáo viên bật băng cho học sinh nghe, học sinh vừa nhìn vào sách giáo khoa (trang 8; phần 1), vừa lắng nghe sau đó nhắc lại theo băng. Học sinh thực hành đọc đoạn sau theo cặp, giáo viên chỉnh sửa lỗi sai cho học sinh nếu có.
 It’s nine fifteen. 	 It’s ten fifteen.
 Peter’s thirsty. 	 Linda’s thirsty.
 It’s nine fifty. 	 It’s ten fifty.
 Peter’s hungry. 	 Linda’s happy.
Production 
 	Giáo viên có thể áp dụng một trong số những hoạt động sau đây:
 - Học sinh chơi trò chơi Bingo. Giáo viên chia lớp thành các nhóm trong đó mỗi nhóm gồm 3 người. Một thành viên trong đội đọc lên các số có trong các ô sau theo thứ tự bất kì. Các thành viên còn lại chọn một trong các bảng A, B hoặc C, lắng nghe và gạch các số mình nghe. Người nào nghe đúng và gạch được hết các số trong ô của mình sớm nhất thì nói to: Bingo 
13
3
15
7
50
30
17
80
18
5
16
15
70
90
3
17
7
6
5
90
13
20
30
16
14
80
18
 A B C 
- Học sinh chia làm các nhóm gồm 3 đến 5 người, chơi trò one or two. 
 1 2
	/i:/ /I/
Một học sinh đọc một từ chứa một trong hai âm trên (fifeen/ fifty/ hungry), những người còn lại nói one hoặc two. Thay vì nói học sinh có thể dùng ngón tay, nếu cột 1 thì giơ 1 ngón, nếu cột 2 thì giơ 2 ngón. Sau đó lần lượt các học sinh khác nói sao cho tất cả các thành viên trong nhóm đều được nói và được nghe.
Trong khi học sinh thực hành, giáo viên đi vòng quanh lớp để giúp đỡ 
học sinh nếu cần thiết. 
2.2. Bài dạy 2
TIẾNG ANH LỚP 5 Unit 8 My Favourite Books
 Lesson 2: Part 1, 2, 3
Trong bài này học sinh học cách phát âm 2 âm /ɔ:/ và /æ/. Tôi tiến hành bài dạy này theo quy trình sau:
Presentation 
- Giáo viên nói từ Watermelon, học sinh im lặng lắng nghe.
- Giáo viên hướng mặt về phía học sinh và nói âm /ɔ:/ hai hoặc ba lần cốt để học sinh có thể nghe và quan sát miệng của giáo viên khi đọc âm đó.
- Giáo viên đọc các từ có chứa âm /ɔ:/ như: watermelon/ tall/ small học sinh nghe và đọc theo giáo viên.
- Giáo viên viết các từ lên bảng. 
 - Giáo viên treo tranh miêu tả cách đọc âm /ɔ:/ và giải thích cách đọc âm này:
 	-> Lưỡi di chuyển về phía sau, phần lưỡi phía sau nâng lên, môi tròn và mở rộng.
- Học sinh đồng thanh nhắc lại các từ trên bảng, sau đó giáo viên yêu cầu từng nhóm nhắc lại, cá nhân nhắc lại.
- Theo đúng tiến trình trên, giáo viên giới thiệu âm /æ/. Giáo viên đọc từ dragon, học sinh lắng nghe.
- Giáo viên hướng mặt về phía học sinh nói âm /æ/ cốt để học sinh có thể nghe và quan sát được miệng của giáo viên khi phát âm này.
- Giáo viên nói một vài từ có chứa âm /æ/ như: dragon/ dad/ bad học sinh đọc theo.
- Giáo viên viết các từ lên bảng.
- Giáo viên treo sơ đồ cách đọc âm /æ/ và giảng giải cách phát âm /æ/. 
 -> Vị trí lưỡi thấp, chuyển động theo hướng đi xuống, miệng mở rộng. 
- Giáo viên dùng các bức tranh chỉ ra cho học sinh các cử động miệng khác nhau khi phát ra hai âm /ɔ:/ và /æ/: khi phát âm /ɔ:/, vị trí phần lưỡi phía sau cao hơn, môi tròn hơn so với khi phát âm âm /æ/.
- Chia học sinh thành 4 nhóm, nhắc lại và thực hành phát 2 âm /ɔ:/ và /æ/.
Practice
- Giáo viên đọc talk/ tall/ small/ bad/ bag/ dad/ fall/ Saturday/ volleyball/ family theo thứ tự đảo lộn, học sinh lắng nghe để nhận diện /æ/ hay /ɔ:/ và đồng thanh nhắc lại các cặp từ trên, sau đó lần lượt nhắc lại theo nhóm rối cá nhân.
- Học sinh nhắc lại theo giáo viên và thực hành đọc các cụm từ: dragon ball / the legend of watermelon.
- Học sinh nhắc lại theo giáo viên và thực hành đọc câu: 
 It’s the dragon in Dragon Balls.
 - Giáo viên bật băng cho học sinh nghe, học sinh vừa nhìn vào sách giáo khoa (trang 64; phần 2), vừa lắng nghe sau đó nhắc lại theo băng. Học sinh thực hành đọc đoạn sau theo cặp, giáo viên chỉnh sửa lỗi sai cho học sinh nếu có.
a. Mai: I’m reading a book.
 Nam: What book are you reading
 Mai: The Legend of Watermelon.
 b. Mai: What are you doing?
 Quân: I’m drawing a dragon. It’s the dragon in Dragon Balls. 
 Production 
 	Giáo viên có thể áp dụng một trong hai hoạt động sau đây:
 - Silent sounds: Giáo viên hướng mặt về phía học sinh, phát âm nhưng không thành tiếng lần lượt hai âm /ɔ:/ và /æ/. Học sinh quan sát cử động miệng của giáo viên (cử động của lưỡi, môi, răng) và đoán giáo viên đang nói âm gì và chỉ vào âm đó trên bảng. Sau đó giáo viên chia học sinh thành các nhóm từ 2 đến 3 người cùng chơi như trên.
 - Correct or incorrect: Giáo viên viết một từ hay một chuỗi các từ talk/ tall/ small/ bad/ bag/ dad/ fall/ Saturday/ volleyball/ family/ cord/ cad/ bought/ bat/ horse/ has lên bảng và phát âm một số từ trên đúng và một số từ sai. Học sinh lắng nghe và nói “correct” (đúng) hay “incorrect” (sai). Khi học sinh đã quen với luật chơi, giáo viên chia lớp thành các nhóm từ 4 đến 5 người cùng chơi như trên.
 - Trong khi học sinh thực hành, giáo viên đi vòng quanh lớp để giúp đỡ học sinh nếu cần thiết. 
IV. PHÂN TÍCH TỔNG HỢP, RÚT RA KẾT LUẬN KHOA HỌC 
 	Sau một năm áp dụng phương pháp này để dạy ngữ âm cho học sinh, tôi thấy rằng khả năng phát âm tiếng anh của các em đã có tiến bộ rõ rệt. Một số em trước đây rất ngại phát âm giờ đã mạnh dạn hơn, sôi nổi trong các phần thực hành và trò chơi. Thêm vào đó, các em đã có ý thức hơn khi phát âm sao cho tốt nhất có thể. Tiếp tục khảo sát năng lực phát âm của các em để theo dõi tôi đã thu được kết quả như sau: 
Khối
Tổng số HS
Giỏi
Khá
TB
Yếu
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
4
20
5
25
8
40
6
30
1
5
5
27
6
22
10
37
9
33
2
8
- Trong quá trình thực hiện phương pháp này cũng có rất nhiều bài học để lại cho tôi. Mới đầu một số học sinh đã quen với cách học cũ nên rất bỡ ngỡ. Khi trình chiếu và giảng giải các sơ đồ về cử động của lưỡi, răng, môi của một số âm khó và không có trong tiếng Việt, nhiều học sinh không thể làm theo được, dẫn đến các em lại phát âm càng sai hơn. Nếu giáo viên cũng nản chí và chấp nhận cách đọc sai thì kết quả sẽ thất bại. Với phương pháp này tôi xem đối tượng học sinh trung bình và yếu là đối tượng được quan tâm hàng đầu. Sử dụng những hoạt động mang tính tập thể để kích thích các em phát huy điểm mạnh của mình. Từ đó giúp các em dần quen với phương pháp mới.
- Trên đây là những phương pháp mà tôi đã áp dụng một năm qua khi dạy ngữ âm cho học sinh tiểu học. Tuy nhiên mỗi đơn vị bài học có những nội dung khác nhau, việc áp dụng phương pháp này cũng cần phải linh động và sáng tạo để đem lại hiệu quả cao, tránh gây nhàm chán cho học sinh.
Ví dụ: Có một số âm trong tiếng Anh cũng phát âm giống với tiếng Việt như: /b/, /p/, /n/, /m/, /l/ khi dạy những âm này giáo viên không cần thiết dành nhiều thời gian để giảng giải cách phát âm, nên cho học sinh nghe qua băng đĩa người bản ngữ phát những âm này để học sinh quen. Sau đó dành thời gian cho phần Production nhiều hơn.
- Các hoạt động trong phần Production nên được thiết kế ngắn gọn, hấp dẫn, phù hợp với lứa tuổi và trình độ của từng đối tượng học sinh. 
C. PHẦN KẾT LUẬN
Như vậy chúng ta thấy rằng việc phát triển ngữ âm Tiếng Anh cho học sinh tiểu học là một vấn đề không hề đơn giản. Nó đòi hỏi người giáo viên phải có phương pháp giảng dạy sáng tạo nhưng dễ hiểu, dễ tiếp nhận đối với học sinh. Qua một năm được đưa vào áp dụng, tôi nhận thấy rằng phương pháp dạy ngữ âm này đã mang đến rất nhiều tác dụng. Trước hết, tạo được niềm yêu thích và hưng phấn cho học sinh trong giờ học ngữ âm, giúp các em không còn cảm thấy khó khăn khi phát âm Tiếng Anh. Từ đó chất lượng học tập ngữ âm của học sinh đã tăng lên rõ rệt. Tỷ lệ học sinh giỏi tăng hơn 17% , tỉ lệ học sinh khá tăng 20%, trong khi đó tỉ lệ học sinh yếu kém giảm tới 20% so với đầu năm học. Bên cạnh đó, với bản thân tôi việc nghiên cứu phương pháp dạy ngữ âm cho học sinh đã góp phần nâng cao trình độ và năng lực sư phạm của mình, đồng thời góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy ngữ âm nói riêng và bộ môn Tiếng Anh nói chung. Trong điều kiện học sinh vùng miền núi, cơ sở vật chất dạy học còn thiếu thốn, cơ hội được tiếp xúc với người bản ngữ là rất khó thì những thành công ban đầu tôi thu được là một điều rất hạnh phúc với bản thân tôi.
 Phương pháp này có thể áp dụng cho các bài dạy ngữ âm trong sách giáo khoa Tiếng Anh lớp 3, lớp 4 lớp 5. Tuy nhiên do đặc thù từng tiết dạy có những âm tiết khác nhau nên các giáo viên cần áp dụng một cách sáng tạo.
	Như đã đề cập ở trên, dạy ngữ âm không chỉ đơn thuần là dạy cách phát âm (phonology), mà còn phải dạy các phần rất quan trọng như: trọng âm (stress), nhịp điệu (rhythm) và ngữ điệu (intonation). Trong thời gian tới tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi và học hỏi từ các tài liệu, tư liệu, từ bạn bè đồng nghiệp cũng như từ kinh nghiệm thực tế để có phương pháp dạy trọng âm, ngữ điệu và nhịp điệu cho phù hợp với học sinh, đồng thời hoàn thiện phương pháp dạy ngữ âm của mình.
 D. KIẾN NGHỊ
Để đề tài thực sự đem lại kết quả, cá nhân tôi có một vài kiến nghị, đề xuất sau:
 - Ban giám hiệu nhà trường cùng bộ phận thiết bị cần bổ sung đầy đủ các trang thiết bị hỗ trợ cho việc dạy bộ môn tiếng Anh như từ điển, sách báo, băng đĩa, máy cát sét, đèn chiếu v.v . 
 - Các giáo viên nên vận dụng một cách sáng tạo phương pháp này sao cho phù hợp với từng đơn vị bài học và từng đối tượng học sinh cụ thể. Tránh dạy một cách rập khuôn, gây nhàm chán cho học sinh.
 - Để ứng dụng phương pháp mới này thật hiệu quả, tôi mạnh dạn kiến nghị tổ chuyên môn, Ban giám hiệu nhà trường, Phòng Giáo dục và Đào tạo tổ chức chuyên đề giới thiệu đề tài tới tất cả các bạn đồng nghiệp để trao đổi, học tập kinh nghiệm, rút ra được phương pháp dạy học ngữ âm tích cực cho bộ môn Tiếng Anh tiểu học.
 Trên đây là một vài kinh nghiệm nhỏ tôi chia sẻ để bạn bè đồng nghiệp tham khảo. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy rất mong được sự góp ý bổ sung của các đồng nghiệp để tôi đạt được thành công hơn trong sự nghiệp dạy học bộ môn tiếng Anh. 
 Xin chân thành cảm ơn!
 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Để tiến hành đề tài này tôi dựa trên một số tài liệu:
1. English Teaching Methodology. Nguyễn Thị Vân Lam, M.A, Ngô Đình Phương, Ph. D, 2007.
2. Tiªng Anh 3, 4, 5 . Nhµ xuÊt b¶n Gi¸o Dôc ViÖt Nam
2. Ship or Sheep? /An intermediate pronunciation course/ Third edition, Ann Baker.
3. How to Teach Pronunciation, Gerald Kelly, Pearson Longman, 2000.
4. Tips for Teaching Pronunciation: A Practical Approach, Linda Lane, Pearson Longman, 2010.
5. English Phonology and Pronunciation Teaching, Pamela Rogerson-Revell, Continuum International Publishing Group, 2011
6. Tài liệu từ các trang web : 

File đính kèm:

  • docSKKN_PHUONG_PHAP_DAY_NGU_AM.doc
Sáng Kiến Liên Quan