Một số kinh nghiệm trong việc giúp trẻ 5 – 6 tuổi nâng cao khả năng cảm thụ văn học

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Lý do chọn đề tài:

 Bác Hồ kính yêu của chúng ta khi còn sống Bác rất quan tâm đến mọi người, nhất là các cháu thiếu niên nhi đồng. Bác chú trọng từ bữa ăn, giấc ngủ và sự tiến bộ của các cháu. Bác hồ nói:

“Trẻ thơ như búp trên cành

Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”

Đúng như vậy, trẻ ở tuổi mầm non thật đáng yêu, tâm hồn trẻ thơ ngây, hồn nhiên như tờ giấy trắng và những cô giáo mầm non chính là những người tạo nên nét vẽ đầu tiên trên tờ giấy trắng đó. Vì vậy giáo dục mầm non có ý nghĩa rất lớn đến sự phát triển của trẻ sau này.

 

docx30 trang | Chia sẻ: binhthang88 | Ngày: 23/11/2017 | Lượt xem: 2319 | Lượt tải: 36Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Một số kinh nghiệm trong việc giúp trẻ 5 – 6 tuổi nâng cao khả năng cảm thụ văn học", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n, đọc thơ)
* Sử dụng nghệ thuật múa rối:
Việc sử dụng rối trong tiết học gây được sự chú ý, thu hút sự tò mò của trẻ tạo điều kiện cho trẻ tiếp cận với nghệ thuật múa rối, một môn nghệ thuật truyền thống của dân tộc.
Với câu truyện “Cáo Thỏ và Gà trống” tôi sử dụng mô hình sân khấu là một khu vườn nhỏ, có cây, tạo khung cảnh là những khúc gỗ lớn trong rừng.. nhân vật trong truyện được cách điệu hoá. Tôi sử dụng rối que: Cô ngồi sau hoặc phía dưới mô hình sân khấu sao cho trẻ không nhìn thấy cô, tay cô cầm các con rối điều chỉnh chúng sao cho khớp với từng hội thoại của từng nhân vật Với những đoạn truyện có nhiều nhân vật thì tôi phải phối hợp với giáo viên cùng lớp để dàn dựng thành một tiết mục rối hoàn chỉnh. 
 (Sử dụng múa rối trong câu chuyện “Cáo Thỏ và Gà trống)
 (Dùng múa rối trong câu chuyện “cây rau của Thỏ út)
Nhờ việc sử dụng nghệ thuật rối trong tiết học mà số trẻ có khả năng cảm thụ tác phẩm văn học đạt cao, đa số trẻ nhớ được nội dung câu truyện, lời thoại của các nhân vật trong truyện và qua đó trẻ biết nhận xét đánh giá tính cách của nhân vật trong truyện như ai là người xấu? Ai là người tốt.
b. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
 Với hình thức đổi mới hiện nay, thời đại CNTT nên việc ứng dụng CNTT vào bài giảng mang lại kết quả rất cao. Biện pháp này luôn gây sự chú ý, tò mò cho trẻ. Vì vậy giáo viên nên đưa CNTT vào giảng dạy để mang lại kết quả cao. Sử dụng phương tiện hiện đại vào quá trình giảng dạy như máy chiếu, ti vi, đầu đĩa để kích thích tính tò mò và thích khám phá của trẻ.
Ví dụ: Tôi cho trẻ chơi trò chơi “ ô của bí mật ” để dạy trẻ kể lại truyện theo phân đoạn. Tức là khi trẻ mở ra ô cửa nào có hình của bức tranh có liên quan đến câu chuyện của đoạn nào thì trẻ sẽ kể ở đoạn đó. Khi tất cả các ô cửa được mở ra, cô sẽ cho trẻ sắp xếp lại các bức tranh theo trình tự câu chuyện và cho một trẻ lên kể lại toàn bộ câu chuyện đó. 
* Đơn giản là các hình ảnh đưa lên máy sử dụng các hiệu ứng, màu sắc phù hợp cũng đã gây sự chú ý của trẻ. 
* Những giáo viên có khả năng sử dụng máy tính thành thạo hơn có thể chuyển các bức tranh có sẵn của bài thơ, câu chuyện thành đoạn phim hoạt hình, hay ta có thể đưa đoạn phim quay sẵn phù hợp với nội dung như thế rất thu hút và gây hứng thú hơn cho trẻ. 
 (Ví dụ: Dạy trẻ đọc thơ “Mẹ của em” cô có thể soạn giáo án điện tử để đưa vào bài dạy nhằm thu hút sự chú ý của trẻ)
Hay thông qua trò chơi Kismast trên máy tính trẻ có thể vừa học vừa chơi, trẻ ghép các bức tranh để chiếu thành một đoạn phim kể lại một câu chuyện.
 (Ví dụ: Thông qua trò chơi Kismart ngôi nhà khoa học của Sammy trẻ có thể tạo ra đoạn phim từ những bức tranh mô phỏng lại quá trình hình thành con chim)
c. Trò chơi đóng kịch: 
* Trò chơi đóng kịch:
 Là hoạt động giúp trẻ phát triển trí nhớ và giáo dục trẻ tinh thần tập thể. Qua hoạt động đóng kịch trẻ truyền đạt lại nội dung câu truyện, làm sống lại tâm trạng, hành động ngôn ngữ hội thoại của các nhân vật trong truyện, đồng thời trẻ biết thể hiện tình cảm và đánh giá các nhân vật trong truyện. Khi đóng kịch trẻ dễ dàng nắm được nội dung, ý nghĩa của tác phẩm, nắm được tính liên tục của câu truyện, điều này góp phần đẩy mạnh sự phát triển tư duy, cảm thụ tác phẩm một cách sâu sắc ở trẻ. Để đạt được điều đó thì trước khi cho trẻ đóng kịch giáo viên phải cho trẻ ôn lại nội dung câu truyện và đàm thoại với trẻ về nội dung. Giúp trẻ hiểu sâu hơn về nội dung truyện và lời thoại của các nhân vật trong truyện. Để từ đó trẻ biết thể hiện những sắc thái khác nhau về ngữ điệu, tính cách tâm trạng của các nhân vật trong truyện. Muốn vậy cô giáo phải tham khảo thêm một số kịch bản đó được biên soạn sẵn như “Chú dê đen, mèo đi câu cá”. Nhằm giúp trẻ phân biệt được giọng điệu lời nói của các nhân vật. Qua đó trẻ khắc hoạ được tính cách nhân vật ví dụ như: dê đen dũng cảm, dê trắng nhút nhát, chó sói hung ác.
Để trẻ nhớ được ngôn ngữ, lời thoại của các nhân vật trong truyện để đóng kịch thì trước hết cho trẻ nhắc lại lời thoại của nhân vật sau đó cho trẻ đóng vai theo tổ hoặc nhóm. Ví dụ trong truyện “Chú dê đen” cho tổ 1 làm dê trắng, tổ 2 làm dê đen, tổ 3 làm cho sói để trẻ tự thể hiện hành động, điệu bộ của nhân vật cho quen và thành thạo. Sau đó phân vai cho từng trẻ theo vai của các nhân vật trong truyện và cho trẻ nhắc lại lời thoại của nhân vật trong truyện mà trẻ sẽ đóng. Lúc này cô giáo là người dẫn truyện và trẻ tự diễn theo nội dung câu truyện. Khi trẻ diễn xong lên cho trẻ tự nhận xét về vai diễn của mình, của bạn, từ đó trẻ xác định được thái độ của trẻ đối với nhân vật trong truyện là yêu hay ghét. 
Trò chơi đóng kịch thực sự giúp trẻ cảm nhận tác phẩm văn học một cách sâu sắc và để đạt được điều đó thì việc trang trí sân khấu và hóa trang cho trẻ rất quan trọng, cô có thể cho trẻ đóng kịch để ôn lại chuyện hoặc có thể cho trẻ đóng kịch trong một cuộc thi nào đó do nhà trường tổ chức, ở đó trẻ có thể hóa thân thành các nhân vật, thể hiện tính cách của các nhân vật đó.
	 (Ví dụ: Cho trẻ đóng kịch nhập trong câu chuyện “chú dê đen”)
Bên cạnh việc làm mô hình sân khấu thì việc hóa trang cho trẻ đóng kịch cũng rất cần thiết. Việc hoá trang và bố trí sân khấu phù hợp, trang phục đẹp sẽ giúp trẻ tự tin khi nhập vai tạo cho trẻ hứng thú hơn với từng vở diễn.
	“Trò chơi hay đồ chơi đẹp” là sách giáo khoa cho trẻ, là đồ dùng đồ chơi, là vật không thể thiếu được trong cuộc sống của trẻ. Ngay từ khi trẻ còn nằm trong nôi trẻ đã biết hứng thú hớn hở nghe tiếng súc xắc leng keng hay những quả bóng đỏ xanh, những con gấu, con thỏ búp bêĐồ chơi trong mắt trẻ luôn là thế giới thần tiên riêng biệt vì đồ chơi thỏa mãn nhu cầu giải trí vui chơi của trẻ vì vậy đồ chơi cho trẻ phải phong phú, đẹp, hấp dẫn, an toàn thỏa mãn nhu cầu của trẻ.
	Đồ chơi giúp trẻ học mà chơi, chơi mà học và đồ chơi còn giúp trẻ thỏa mãn nhu cầu giao tiếp. Hàng ngày trẻ được trò chuyện cùng búp bê, gấu bông, từ đó ngôn ngữ của trẻ được phát triển và kích thích sự hứng thú của trẻ giúp trẻ dễ nhớ, lâu quên và tạo không khí buổi học thoải mái, vui vẻ đạt kết quả cao nhưng với điều kiện cô giáo phải sử dụng đồ dùng đồ chơi đó sao cho đúng lúc đúng chỗ phù hợp với nội dung bài dạy, lứa tuổi trẻ. Vì thế hàng ngày hàng giờ tôi cùng các chị em trong trường, cùng phụ huynh sưu tầm các nguyên vật liệu thiên nhiên, tận dụng những nguyên vật liệu sẵn có như chai, lọ, vải vụn sau đó dựa vào nội dung câu truyện làm sa bàn, làm các nhân vật, con rối bằng xốp, củ quả, chai lọ, que, giấy bóng 
d. Tạo môi trường cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học:
Để giúp trẻ nâng cao khả năng cảm thụ văn học thì việc tạo cơ hội cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học phải thường xuyên. Ngay từ đầu năm học Ban giám hiệu nhà trường phối hợp tổ chức họp phụ huynh trao đổi đóng góp, sưu tầm các sách văn học, các hoạ báo, tạp chí, lịch cũ, nguyên liệu cho trẻ tự làm sách để xây dựng một “Góc thư viện” mang nội dung văn học, tại “Góc thư viện” trẻ được xem các tranh truyện, tạp chí, hoạ báo. Sau đó cô kể truyện cho trẻ nghe về nội dung những câu truyện như “Dê con biết nhận lỗi”, “Gà cánh tiên” hướng dẫn trẻ cách tri giác các tranh truyện đó dần dần trẻ có thể tự đọc. Tất nhiên có thể lúc đầu trẻ đọc theo trí nhớ, trẻ nhớ về nội dung câu truyện cô đó kể rồi tự kể khớp với nội dung cõu truyện mà trẻ tri giác. Cũng có thể trẻ sẽ tự kể câu chuyện đó dựa trên trí tưởng tượng của trẻ. Với những truyệnn tranh trẻ đó được làm quen nhiều lần,có thể đề nghị lần lượt các trẻ kể lại nội dung của từng bức tranh.
 Trẻ ở độ tuổi này, trí tưởng tưởng, khả năng sáng tạo của trẻ đã phát triển, vì vậy mà trong lớp tôi đã xây dựng một góc mở nhằm chú trọng vào việc nâng cao cảm thụ văn học cho trẻ đó là góc “cùng bé kể chuyện”. Ở góc này cô có thể sưu tầm những tranh ảnh về một câu chuyện nào đó, hay có thể vẽ, cắt, xé dán nên những bức tranh sau đó cô luồn vào bóng kính, ở đó trẻ sẽ được tự do sáng tạo những câu chuyện theo trí tưởng tượng của mình, hoặc trẻ có thể kể lại câu chuyện của mình bằng cách vẽ ra các bức tranh. Giáo viên cũng có thể để các minh hoạ truyện mà trẻ đó được nghe đặt hoặc treo không thứ tự. Sau đó yêu cầu trẻ tự xếp lại sao cho đúng theo trình tự câu truyện, và kể lại theo nội dung các bức tranh hoặc giáo viên có thể chuẩn bị một số tranh ghộp rời và cho trẻ chơi ghép tranh. Sau đó trẻ kể về nội dung bức tranh vừa ghép được hoặc có thể cho trẻ tô theo nét in mờ dưới mỗi nhân vật trong truyện như: lão nhà giàu trong truyện “Cây tre trăm đốt” người anh trong câu truyện “Hai anh em” cậu bé trong truyện “Quả bầu tiên”. Qua đó trẻ phân biệt được đâu là người tốt đâu là người xấu. Hình thức này giúp trẻ nhớ lại từng nhân vật trong mỗi truyện và nhớ lại tính cách của từng nhân vật.
Cho trẻ xem tranh minh hoạ phù hợp với nguyện vọng của các em còn có tác dụng củng cố những điều mà các em đó được nghe, làm từ những điều mà các em chưa hiểu kĩ, mở rộng các hình tượng nghệ thuật. Vì vậy giáo viên nên treo những bức tranh minh hoạ các tác phẩm văn học ở góc văn học để các em có điều kiện xem một cách thường xuyên.Với những tranh minh hoạ có kích thước lớn, cô cho cả lớp xem, những tranh nhỏ cô cho cả lớp xem theo nhóm. Khi trẻ xem tranh, cô nên đặt các câu hỏi giúp trẻ hiểu nội dung các hình ảnh, phát huy trí tưởng tượng của trẻ. Cô có thể giảng giải nội dung câu chuyện qua tranh minh hoạ.
 Biện pháp làm quen, ôn luyện trong mọi hoạt động và các tiết học khác ở mọi lúc mọi nơi.
 	Giáo dục trẻ ở mọi lúc mọi nơi là là biện pháp không thể thiếu được đối với các môn học. Đặc biệt là môn văn học.
 Thông qua hoạt động ngoài trời, các môn học khác, hoạt động chiều để cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học, rồi ôn luyện sau những bài thơ, câu chuyện trẻ đó được học trên tiết học, giúp trẻ luyện phát âm, lời nói. Vì vậy ở các không gian ngoài trời cô có thể trang trí các ống nhựa hay những chiếc hộp treo lên trong đó đựng những cuốn truyện, những tập thơ...khi ra chơi hay hoạt động cô có thể cho trẻ chơi trò chơi ném trúng đích, nếu trẻ ném trúng vào hộp nào thì cô sẽ mở hộp đó ra và cho trẻ được kể hay đọc câu chuyện, bài thơ đó.
 Góc văn học thực sự sẽ thu hút trẻ, giúp trẻ tiếp xúc với văn học một cách tự giác nếu cô giáo thường xuyên thay đổi các loại truyện tranh mới. Vì vậy cô giáo cần quan tâm đúng mức để có kể hoạch bổ sung mới và hướng dẫn trẻ xem sách.
 Bên cạnh đó tạo tình huống để trẻ hứng thú nghe, hiểu nội dung tác phẩm văn học một cách đầy đủ, có hiệu quả thì việc tạo tình huống, đặt các câu hỏi gợi mở để cung cấp thêm vốn từ cho trẻ, giúp trẻ nói đúng từ, sửa sai, sửa nói ngọng cho trẻ là một yêu cầu đặt ra cần thiết đổi với trẻ. Bởi vậy trong các tác phẩm văn học tôi luôn nghiên cứu kỹ để tìm ra những tình huống mới lạ giúp trẻ luyện được nói, phát triển ngôn ngữ.
 Ví dụ: ở câu chuyện “ Qua đường” cô giáo tạo tình huống đi xe đạp đi qua đường và “phanh gấp’’ khi gặp ô tô để gây hứng thú cho trẻ.
 Việc đưa các bài đồng dao, ca dao, tục ngữvào các hoạt động giáo dục hàng ngày sẽ giúp cho trẻ sẽ có những cảm nhận về cái đẹp, cái hay mà văn học mang lại.
e. Biện pháp phối kết hợp:
 Thông qua việc họp phụ huynh, đón trả trẻ tôi đã giải thích rõ cho phụ huynh hiểu mục đích, yêu cầu, tầm quan trọng của bộ môn “ Làm quen văn học ” từ đó giúp trẻ hình thành tính cách con người xã hội chủ nghĩa và quan trọng hơn nó giúp trẻ phát triển về lời nói, ngôn ngữ một cách tích cực.
 Xây dựng góc tuyên truyền có tủ bày một số hình, câu chuyện bài thơ có tính giáo dục cao, chỗ dễ nhìn khi phụ huynh đón trẻ.
 Gặp gỡ những phụ huynh có trẻ cá biệt như: nói lắp, nói ngọngCô kết hợp với phụ huynh kèm cặp thêm, tập cho trẻ phát âm đúng, chuẩn.
 Trẻ ở độ tuổi này rất thích nghe chuyện kể nên ông bà, bố mẹ ở nhà nên kể cho trẻ những câu chuyện ngắn, ít tình tiết hoặc cô giáo ghi các mẫu chuyện cô đó dạy ở lớp, phối kết hợp cho trẻ làm quen tác phẩm, tập kể chuyện, đọc thơ.
 Tổ chức tốt những buổi biểu diễn tại lớp: kể chuyện, đọc thơ để tạo phấn khởi cho trẻ và các bậc phụ huynh.
 Tham mưu với phụ huynh xin những đồ dùng, phế liệu, vải vụn, xốp, len để làm đồ chơi, rối tay.
4. Kết quả nghiên cứu
Sau khi áp dụng một số biện pháp cho trẻ cảm thụ văn học trong năm học đó cho thấy:
+ Trẻ thông minh sáng tạo hơn khi học các tiết văn học.
+ Trẻ thích được đóng kịch.
+ Trẻ thích đọc thơ kể truyện.
+ Trẻ ghi nhớ thuộc thơ truyện lâu hơn.
+ Trẻ có khả năng tự sáng tạo và thể hiện tính cách nhập vai một cách linh hoạt.
+ Biết kể truyện sáng tạo, kể theo trí tưởng tượng một cách phong phú và đa dạng.
+ Trẻ chú ý lắng nghe tác phẩm tích cực, chủ động vào giờ học.
+ Số trẻ nói đúng ngữ pháp, đúng âm tiết, ngôn ngữ phát triển.
+ Đa số trẻ thể hiện tình cảm yêu thương gần gũi mọi người và thế giới xung quanh
Chất lượng khảo sát trẻ sau khi áp dụng đề tài được thể hiện qua bảng sau:
Tổng số trẻ khảo sát
Số trẻ đọc thuộc thơ, kể lại chuyện
Số trẻ đọc thơ, kể chuyện diên cảm
Số trẻ nhớ một phần nội dung câu chuyện, bài thơ
Số trẻ nhớ và nói được nội dung câu chuyện, bài thơ
Số trẻ
Tỷ lệ
Số trẻ
Tỷ lệ
Số trẻ
Tỷ lệ
Số trẻ
Tỷ lệ
41
39
95,1%
35
85,3%
41
100%
36
87,8%
4.2. Đối với phụ huynh:
 Các bậc phụ huynh đã thực sự quan tâm đến giáo dục văn học cho sự phát triển của trẻ.
 Phụ huynh tự nguyện đóng sách chuyện, tăng thêm sự phong phú cho tủ sách của lớp.
 	 Phụ huynh nhiệt tình đóng góp đầy đủ các loại đồ dùng, một số phụ huynh giúp cô làm một số rối dẹp, sân khấu rối sinh động đáp ứng yêu cầu giáo dục.
4.3. Đối với giáo viên:
 Bản thân tôi qua những năm giảng dạy, lúc đầu phương pháp chưa linh hoạt, nên kết quả tiết học chưa cao. Từ khi sử dụng các nghệ thuật lên lớp một cách sang tạo, sử dụng đồ dùng trực quan nhuần nhuyễn với lời kể, học hỏi kinh nghiệm từ bạn bè, đồng nghiệp, cộng thêm sự rèn luyện bản thân và tìm ra những biện pháp tối ưu nhất nên đã đem lại kết quả cao trong quá trình giảng dạy. Đặc biệt là môn “Làm quen văn học”. Được sự tin tưởng của đồng nghiệp, sự yêu mến của phụ huynh và học sinh.
5. Bài học kinh nghiệm
Qua quá trình nghiên cứu và thực hiện các biện pháp trên vào việc dạy trẻ nhằm nâng cao khả năng cảm thụ văn học cho trẻ tôi đã rút ra nhưng bài học kinh nghiệm sau:
 Giáo viên nắm chắc phương pháp giảng dạy, linh hoạt, sang tạo trong việc tổ chức các tiết học
 Ngay từ đầu năm học giáo viên phải nắm được đặc điểm tâm sinh lý của trẻ. 
 Dựa vào tình hình thực tế của lớp để lên kế hoạch soạn giảng cho phù hợp.
 Lựa chọn lồng ghép, tích hợp các lĩnh vực khác nhau vào hoạt động một cách hợp lý.
 Chú ý tính tích cực của trẻ, lấy trẻ làm trung tâm, trẻ được tim hiểu, khám phá, giải quyết vấn đề.
 Luyện tập giọng đọc, giọng kể sao cho diễn cảm, thể hiện được nét mặt, cử chỉ, điệu bộ của các nhân vật trong truyện.
 Tham khảo thêm một số kịch bản đó được biên soạn sẵn và tập cho trẻ đóng kịch.
 Tham mưu tốt với phụ huynh hỗ trơn thêm một số tranh truyện sách báo, tạp chí.
 Sử dụng linh hoạt, sáng tạo các biện pháp để lồng ghép vào bài bạy một cách nhẹ nhàng mà thu hút trẻ để đạt hiệu quả cao.
 Cô giáo phải đi sâu nghiên cứu để tạo ra được môi trường tốt cho trẻ hoạt động một cách tích cực nhất, biết tạo cảm xúc cho trẻ khi kể chuyện sáng tạo. 
 Thường xuyên trò chuyện với trẻ, khơi gợi trẻ đặt tên cho nội dung vừa trò chuyện hoặc tóm tắt ngắn gọn những điều vừa trò chuyện.
 Khuyến khích trẻ nói những ý nghĩ của trẻ qua nội dung hay chủ điểm nào đó nhằm giúp trẻ luyện cách trình bày, diễn đạt ý.
 Cho trẻ tham quan, hướng dẫn từ quan sát sự vật, hiện tượng nhằm mở rộng vốn hiểu biết cho trẻ; kết hợp đàm thoại để trẻ hiểu sâu bản chất của sự vật, hiện tượng và nói lên nhận xét của mình.
 Mở rộng vốn từ cho trẻ và khuyến khích trẻ sử dụng vốn từ trẻ học được trong các hoạt động khác nhau, đặc biệt qua các trò chơi ngôn ngữ, trò chuyện, đàm thoại giưa cô với trẻ, trẻ với trẻ.
 PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời Người đã từng nói “con người” là vốn quý nhất, là yếu tố quyết định của sự nghiệp cách mạng. Trước đây, Khổng Tử đã từng khuyên nhà cầm quyền phải chăm lo đời sống vật chất cho dân, phải giáo hóa dân để thực hiện đường lối “đức trị”, thì tư tưởng của Người, Người cũng thường nhắc nhở rằng: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Bác đã mượn câu nói trên để chỉ ra tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục. Trong tư tưởng Người, tất cả là vì “con người”. Đối với giáo dục thế hệ trẻ, Người Viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần công học tập của các em.
Đúng như lời chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói. Trẻ em chính là những chủ nhân tương lai của đất nước. Nhưng để các em có thể trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước thì nhất thiết phải cần đến sự giáo dục của đội ngũ giáo viên. Và Người cũng đã đánh giá rất cao đội ngũ giáo viên” “anh chị em là đội tiên phong trong sự nghiệp tiêu diệt giặc dốt. Anh chị em chịu cực khổ, khó nhọc, hi sinh phấn đấu để mở mang tri thức phổ thông cho đồng bào, để xây đắp nền văn hóa sơ bộ cho dân tộc”. Người nhắc nhở phải “chăm lo dạy dỗ con em của nhân dân thành người công dân tốt, người cán bộ tốt của nước nhà”. Thầy cũng như trò, cán bộ cũng như nhân viên phải thật thà yêu nghề mình. “Còn gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”.
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì việc “trồng người” lại càng hết sức quan trong. Và nhiệm vụ của người giáo viên mầm non là người đặt nền móng đào tạo nên những thế hệ có đủ đức, trí, thể , mỹ cho đất nước lại càng được nâng cao.
 	Việc nâng cao khả năng cảm thụ văn học cho trẻ mẫu giáo là một vấn đề hết sức quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách đó cho trẻ sau này. Nó hình thành cho trẻ được những đức tính tốt, hình thức tổ chức cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học phong phú, đa dạng sẽ giúp trẻ toàn diện về mọi mặt: Nhận thức, ngôn ngữ, thẩm mỹ - tình cảm xã hội.
Qua những bài thơ câu chuyện trẻ biết yêu cái đẹp của tự nhiên và con người, biết phân biệt cái thiện và cái ác, đem lại cho trẻ những hiểu biết đầu tiên về cuộc sống xung quanh. Đồng thời trẻ biết nhập vai với những nhân vật trong câu chuyện, bài thơ.
 	Ngoài ra văn học còn giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng sáng tạo nghệ thuật, và là một trong những hoạt động cần thiết trong việc hình thành nhân cách cho trẻ. Tác phẩm văn học mãi mãi là nguồn sữa tươi mát với tâm hồn trẻ thơ 
2. Kiến nghị
 Đề xuất với phòng giáo dục hỗ trợ đồ dùng, đồ chơi, trang thiết bị cho các trường mầm non để việc chăm sóc giáo dục trẻ được thuận lợi, tạo điều kiện cho trẻ phát triển toàn diện đức, trí, thể, mỹ. Giúp trẻ có tiền đề vững chắc vào trường tiểu học.
 Cần nhận được nhiều hơn nữa từ sự quan tâm giúp đỡ của BGH nhà trường, các bậc phụ huynh, lãnh đạo địa phương và Phòng giáo dục đào tạo về mọi mặt, để phục vụ cho việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ Mầm non, tương lai của đất nước.
 Thường xuyên tổ chức các buổi chuyên đề, tổ chức tham gia các tiết dạy mẫu để để đông đảo giáo viên được tham dự, trau dồi kinh nghiệm.
Trên đây là một số kinh nghiệm tôi đã thu được trong thực tế cũng như quá trình công tác tại trường mầm non. Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các đồng chí lãnh đạo, các bạn đồng nghiệp để bài viết được phong phú hơn, hiệu quả cao hơn nữa.
 Tôi xin chân thành cảm ơn!
PHỤ LỤC
Nội dung
Trang
Phần I: Đặt vấn đề
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3
4. Giả thuyết khoa học
4
5. Phương pháp nghiên cứu
4
6. Những đóng góp mới của đề tài
4
Phần II: Giải quyết vấn đề
1. Cơ sở lý luận
6
2. Cơ sở thực tiễn
7
3. Các biện pháp nâng cao khả năng cảm thụ văn học cho trẻ 5 – 6 tuổi
10
3.1. Nghiên cứu kỹ tác phẩm
10
3.2. Đổi mới hình thức cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học
11
4. Kết quả nghiên cứu
25
5. Bài học kinh nghiệm
26
Phần III: Kết luận và kiến nghị
27
1. Kết luận
27
2. Kiến nghị
29

File đính kèm:

  • docxSang_kien_kinh_nghiem.docx
Sáng Kiến Liên Quan