Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy chính tả ở lớp 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:

 Sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh từng nói: “ Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người ”. Bác luôn quan tâm đến nền giáo dục của nước nhà, đặc biệt là những mầm non tương lai của đất nước. Bác luôn kì vọng thế hệ thiếu nhi sẽ đưa nước nhà sánh vai với các cường quốc năm châu. Để thực hiện nguyện vọng đó của Bác, Đảng và nhà nước ta hiện nay rất chú trọng đến sự nghiệp trồng người.

 

doc20 trang | Chia sẻ: binhthang88 | Ngày: 20/11/2017 | Lượt xem: 965 | Lượt tải: 24Download
Bạn đang xem tài liệu "Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy chính tả ở lớp 5", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
iếng Việt còn được xây dựng trên một số nguyên tắc như: Nguyên tắc truyền thống lịch sử, nguyên tắc khu biệt....Những nguyên tắc này không đồng nhất với ngữ âm học, do vậy chính tả Tiếng Việt vẫn còn những bất hợp lý. Chính tả chữ viết (quốc ngữ) vừa đơn giản lại vừa phức tạp. Đơn giản vì chữ quốc ngữ là chữ viết ghi âm ở dạng ổn định văn bản hợp lý, phát âm thế nào thì viết thế ấy. Nhưng phức tạp ở chỗ: trong Tiếng Việt có hiện tượng trong Tiếng Việt hiện đại, bên cạnh việc phát âm không phù hợp với tiêu cách phát âm ở những vùng miền khác nhau (phương ngữ), trong khi đó hệ thống ghi âm tiêu chuẩn của Tiếng Việt lại chưa được xác định một cách chính thức. Do đó khó có thể phổ biến rộng rãi hệ thống ấy được. Hơn nữa chuẩn lại có trường hợp trong đó một từ đồng thời mang hai biến thể phát âm, khi viết các em cần chú ý lắng nghe cách phát âm của người đọc để viết cho đúng với từng văn bản .
	Ví dụ: 	rập rờn – dập dờn
	 	Suýt soát –xuýt xoát
	 	trời – giời
	Hoặc có khi cùng một cách phát âm nhưng lại có hai cách viết.
 d: dải lụa 
 gi: giải thích 
	Ví dụ: 	/z/ 
 i: lí luận
 y: Lý Thường Kiệt
	 /i/	
Bản thân hệ thống âm vị Tiếng Việt còn một số vị âm không ghi thống nhất, một âm có thể ghi bằng nhiều con chữ. 
 c (con cuốc)
 k (cái kim)
 q (Tổ quốc)
 /k/	
	Hoặc trong bộ chữ cái Tiếng Việt còn chữ “h” là một hiện tượng đặc biệt. Nó vừa sử dụng độc lập làm đại diện cho phụ âm /h/ thể hiện bằng con chữ “h”, vừa được sử dụng theo cách ghép với các con chữ khác làm đại diện cho 7 âm nữa đó là: ch, gh. kh, nh, ngh, ph, th. Dù “h” đứng một mình hay “h” đứng sau các chữ khác (c, g, k, n, ng, p, t) thì ch, gh, kh, nh, ngh, ph, th đều có giá trị như nhau. Mỗi hình thức trong 7 hình thức đó đều chỉ thay thế cho 1 âm. Cách nhận biết tốt nhất về “ng” và “ngh” là dựa vào khả năng kết hợp chung với nguyên âm.
	Trước những bất hợp lý trên, việc xác định những trọng điểm chính tả cần dạy cho học sinh vùng phương ngữ, một mặt phải coi trọng những biến thể phát âm địa phương, đồng thời phải nghĩa để sử dụng dựa vào các văn cảnh cụ thể để ghi nhớ cho học sinh cách phân biệt chính tả.
	Do vậy hai nhiệm vụ chủ yếu của việc đề cao nguyên tắc dạy học chính tả có ý thức là: giải quyết những vấn đề tồn tại của chữ quốc ngữ. Tôn trọng nguyên tắc dạy chính tả theo khu vực, phải chú ý cách phát âm của địa phương.
 1.2. Cơ sở thực tế.
	Trẻ em ở lứa tuổi Tiểu học nhận thức hiện thực khách quan mang đậm màu sắc cảm tính. Các giác quan như tai, mắt được sử dụng nhiều trong nhận thức sự vật, cho nên trực quan cụ thể là những yếu tố đặc biệt quan trọng góp phần tạo nên nhận thức và tư duy của học sinh Tiểu học. “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” câu nói nổi tiếng của Lê- nin khi người giải thích quy luật nhận thức hiện đại, đặc biệt được thể hiện ở học sinh Tiểu học. Khi dạy chính tả cho học sinh Tiểu học cần vận dụng triệt để đặc điểm, nhận thức của trẻ em ở lứa tuổi này.
	VD: Nghe và quan sát cách phát âm đúng để phát âm đúng. Quan sát cách viết đúng để viết đúng , dần dần học sinh sẽ tích luỹ được những kinh nghiệm, làm giàu thêm tri thức chính tả cho bản thân. Kết quả là các em nhận thức được những vốn kinh nghiệm một cách có ý thức, tạo nên kĩ năng kĩ xảo cho các em. Từ đó giúp các em dễ dàng trong việc tiếp thu các tri thức của các môn học, nhất là trong phân môn Tập làm văn
2. NỘI DUNG:
 2.1.Thực trạng trình độ chính tả của học sinh Tiểu học.
Qua thực tế giảng dạy và nghiên cứu khảo sát sách vở chính tả, vở tập làm văn của học sinh trường Tiểu học Hợp Thanh B, bản thân tôi nhận thấy: Vở chính tả, tập làm văn của các em và các vở khác mắc khá nhiều lỗi chính tả. Thống kê số lỗi chính tả của các em tôi thấy có 3 lỗi cơ bản sau.
	- Lỗi chính tả do không nắm vững chính tả: lỗi này thường gặp khi viết các phụ âm đầu: d/gi; ch/tr; ng/ngh
	- Lỗi do không nắm vững cấu trúc âm tiết của Tiếng Việt và không hiểu cấu trúc nội bộ của âm tiết Tiếng Việt nên học sinh viết sai.
	VD: quanh co; khúc khuỷu; ngoằn nghèo.
	- Lỗi chính tả do viết theo lối phát âm địa phương hoặc do không nắm vững âm chính. Đây là lỗi cơ bản nhất mà qua khảo sát tôi nhận thấy ở trường Tiểu học Hợp Thanh B nói riêng và ở xã Hợp Thanh nói chung.
 Cụ thể là âm: l – n, dấu ngã và dấu hỏi. Học sinh thường nhầm lẫn và viết sai chính tả trong các bài viết của mình.
	Tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng sai trên tôi thấy chủ yếu là do học sinh phát âm sai. Thường các em còn phát âm lẫn lộn giữa âm l – n nên không phân biệt được khi viết. Để sửa lỗi này giáo viên trường Tiểu học Hợp Thanh B đã cố gắng dạy cho học sinh nắm vững âm chính trong Tiếng Việt. Muốn viết đúng chính tả thì phải phát âm đúng vì chính âm đi trước chính tả. Do vậy ta phải chú trọng việc phát âm chuẩn cho học sinh trong các giờ tập đọc. Mặt khác mỗi giáo viên phải là một chuẩn mực sống động để học sinh bắt trước và noi theo. Ngoài ra việc đổi mới các phương pháp dạy học và áp dụng qui trình soạn giáo án theo hướng đổi mới, giúp học sinh nắm bắt các mẹo luật chính tả cũng hết sức cần thiết để giúp học sinh viết đúng chính tả. Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, tôi xin được thống kê số liệu học sinh mắc lỗi chính tả ở khối 5 thu được đầu năm như sau.
Lớp
Tổng số
học sinh
Các lỗi chính tả thường mắc
l - n; ~/./
d/gi/r; tr/ch; s/x; g/gh
Cấu trúc âm tiết
5A
30
10 em
6 em
1 em
5B
31
14 em
8 em
3 em
5C
30
11 em
7 em
5 em
5D
30
12 em
6 em
3em
	Thực tế về chất lượng dạy chính tả của giáo viên Tiểu học trước hết phải nói đến trình độ đã được đào tạo của giáo viên không đồng đều và việc tổ chức dạy và học môn chính tả Tiếng Việt chưa được khoa học. Hai là trong các nhà trường sư phạm việc dạy phương pháp môn Tiếng Việt nói chung, phương pháp dạy chính tả nói riêng còn coi nhẹ.
	Do đó nhiều giáo viên ra trường còn gặp nhiều lúng túng về nội dung và phương pháp và cách rèn kỹ năng cho học sinh. Những tồn tại trên dẫn đến chất lượng học chính tả của học sinh còn nhiều hạn chế. Đặc biệt với những vùng phương ngữ thì đây là một thiệt thòi rất lớn vì các em không có điều kiện để đạt tới một chuẩn mực chính tả như mong muốn. Để khắc phục tình trạng này thì trước hết cần phải chuẩn hoá giáo viên để giáo viên có đủ kinh nghiệm, trình độ giúp học sinh nắm được quy tắc chính tả, hình thành kỹ năng, kỹ xảo chính tả, bỏ được thói quen phát âm sai, viết sai.
 2.2. Về chương trình sách giáo khoa (SGK):
	Trước hết phải khẳng định rằng môn Tiếng Việt ở Tiểu học SGK đã xác định được những trọng điểm chính tả cơ bản cần dạy cho học sinh. Các bài tập trong SGK cũng khá đa dạng, phù hợp với từng khối lớp và cấu trúc đi từ dễ đến khó.
	Tuy nhiên về hạn chế SGK còn đánh đồng nội dung dạy học trong cả nước cho nên có thể nói nội dung dạy chính tả trong SGK Tiếng Việt vừa thừa lại vừa thiếu do chưa sử lý được việc dạy chính tả theo khu vực. Thừa ở các em vừa phải luyện tập ở cả những nội dung mà các em đã biết, không mấy khi sai sót. Thiếu ở chỗ không đủ thời gian để đi sâu hơn, luyện tập nhiều hơn để tránh những lỗi mà các em thường mắc phải. Nội dung chính tả được trình bày trong SGK Tiểu học còn mang tính ngẫu nhiên, chủ quan, áp đặt, không được xây dựng dựa trên sự điều tra khảo sát tình hình chính tả ở từng vùng, từng khu vực. Chính tả trong SGK chưa thống nhất, điều này cũng gây không ít khó khăn cho việc dạy học chính tả ở Tiểu học, đặc biệt ở những vùng phương ngữ.
 3. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
	Qua kết quả điều tra, khảo sát thực tiễn tôi nhận thấy rằng trọng điểm chính tả mà học sinh trường Lê Lợi mắc phải chính là do lỗi phát âm địa phương không phân biệt được giữa l với n, dấu thanh ~/./ Trước thực tế như vậy, bản thân người giáo viên phải hết sức cố gắng nỗ lực nhiều mặt như: tâm lý học lý luận dạy học, các kiến thức về ngữ âm, về văn học.... làm sao phải để học sinh nhận biết được cần kết hợp nghe và viết và biết vận dụng mẹo vặt vào thực tiễn . Có như vậy chất lượng giáo dục chính tả vùng phương ngữ mới thu được kết quả như mong muốn.
	Muốn làm được điều đó, trước hết người giáo viên phải đặt phân môn chính tả nằm trong mối quan hệ giữa các phân môn khác của Tiếng Việt, đặc biệt là phân môn tập đọc và từ ngữ. Học sinh muốn viết đúng được thì phải hiểu được nghĩa và phát âm đúng từ đó. Nếu học sinh phát âm sai, tuỳ tiện sẽ dẫn đến hiểu sai và viết sai hoặc do thói quen lâu ngày không được sửa chữa. Trong các giờ tập đọc, chúng ta dành nhiều thời gian hơn cho việc sửa lỗi phát âm cho học sinh, đặc biệt là hai âm l và n, dấu ~ /./. Giáo viên phát âm mẫu cho học sinh học tập và hướng dẫn cách phát âm tỉ mỉ. Đặc biệt giáo viên không bao giờ được phạm sai lầm về lỗi phát âm này. Nếu không việc sửa lỗi của giáo viên sẽ mất tác dụng.
	Ngoài ra giáo viên hướng dẫn học sinh viết đúng chính tả trên cơ sở hiểu đúng nghĩa của từ. Muốn viết đúng một từ, học sinh phải biết đặt từ đó trong mối quan hệ với cụm từ và các văn bản. Nếu ta tách từ đó ra khỏi văn bản có thể học sinh sẽ không hiểu được nghĩa và do đó dẫn đến việc viết sai chính tả.
	VD: Khi đọc tiếng “cuốc” nếu không đặt nó trong mối quan hệ, cụm từ, câu thì rất khó xác định nghĩa để viết đúng. Nhưng nếu đặt nó trong câu: “Mẹ em vác cuốc ra đồng” hoặc trong từ “Tổ quốc” thì học sinh dễ dàng viết đúng.
	Bên cạnh đó muốn học sinh viết đúng giáo viên phải cho học sinh nắm được khả năng kết hợp của các kí hiệu từ trong các trường hợp sau:
	+ Các con chữ phụ âm kết hợp với các con chữ nguyên âm để tạo nên phụ âm đơn như “gi”, “qu”. Con chữ phụ âm đi trước, con chữ nguyên âm đi sau. Trong thực tế chính tả, khi xuất hiện “q” thì nhất thiết sẽ có “u” đi kề liền. Đây là luật yêu cầu học sinh cần nắm vững.
	+ Các con chữ phụ âm kết hợp với nhau để tạo nên phụ âm đơn.
	VD “ngh”, “ng”, “gh”, “tr”. Trong Tiếng Việt dùng 9 kí hiệu từ đơn: ph, th, ch, kh, nh, ng, gh, ngh, tr. Với hình thức chuỗi như vậy không bao giờ được phép kết chuỗi đảo ngược các thứ tự sắp xếp như rt, hn...
	+ Các con chữ nguyên âm kết hợp với nhau để tạo nên một kí tự nguyên âm đôi.. 
VD: iê, ia, ươ, uô, ua, uâ...
	Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần cung cấp kiến thức này cho các em. Tổng kết lại “v” chỉ kết hợp các âm không tròn môi, không nên kết hợp với các nguyên âm tròn môi.
	Một điều rất quan trọng trong dạy chính tả cho học sinh vùng phương ngữ là dạy cho các em biết được một số mẹo luật chính tả. “Mẹo” được hiểu như cách làm độc đáo giúp học sinh phân biệt, ghi nhớ được cách viết đúng những chữ cái hay nhầm lẫn trong khi viết chính tả. Sự tìm ra các mẹo chính tả dựa vào:
	+ Sự kết hợp: Trong cấu trúc âm tiết.
	+ Sự láy âm, điệp âm.
	+ Mẹo từ hán việt.
	+ Mẹo nghĩa của từ.
	+ Mẹo phân biệt l/n:.
	- Mẹo 1: Một chữ ta không biết là l hay n, nhưng nó đứng đầu một từ láy âm, không phải là điệp âm thì dứt khoát là “l” chứ không phải “n”.
	VD: “l” láy với “c”: lò cò, la cà, lục cục...
	 “l” láy với “b”: lệt bệt, lùng bùng, lõm bõm..
	 “l” láy với “d”: líu díu, lò dò...
	 “l” láy với “h”: lúi húi, loay hoay...
	 “l” láy với “n”: lơ mơ, liên miên...
	- Mẹo 2: Khả năng kết hợp âm:
 Âm “l” đứng trước âm đệm nhưng “n” không đứng trước âm đệm. Do đó “n” không bao giờ đứng trước một vần bắt đầu: oa, uê, uy... trái lại “l” lại đứng trước các vần đó như: loa, luân..
	- Mẹo 3: mẹo luật láy âm, điệp âm:
	“l” láy âm rất rộng rãi, trái lại “n” không láy âm với một âm nào mà chỉ điệp âm với chính nó. Đồng thời lại không có hiện tượng “l” láy âm với “n”. Từ đó suy ra quy tắc: Nếu gặp một từ láy mà hai âm đầu đọc giống nhau thì nhất định là một điệp âm đầu và cả hai chữ phải cùng có âm đầu là “l” hoặc “n”. Vì vậy ta chỉ cần biết một chữ là đủ.
	VD: lấp loáng, long lanh, lanh lảnh....
	 no nê, ninh ních, nõn nà...
	- Mẹo 4: Đối với trường hợp “l” và “n” đứng ở chữ thứ 2. Trong từ láy thì”n” khi láy âm chỉ láy với “gi” và không láy với âm nào khác. Trái lại “l” lại không láy với “gi” mà láy với các âm khác .
	(Ngoại lệ có: khúm núm, khệ nệ)
	kh – l : khéo léo, khoác loác...
	ch – l : cheo leo...
	“n” láy với những âm tiết không có âm đầu như: ảo não, áy náy...
	- Mẹo 5: Những chữ không biết được “l” hay “n” nhưng đồng nghĩa với một từ khác viết với “nh” thì chữ ấy là “l”.
	VD: lăm le (nhăm nhe)
	 lỡ làng (nhỡ nhàng)
	Trên đây là một số mẹo luật nhận diện chữ cái phân biệt l - n trong khi viết chính tả mà mỗi giáo viên thuộc phương diện phương ngữ Bắc bộ nói chung và giáo viên trường Lê Lợi nói riêng cần nắm được để hướng dẫn các em viết chính tả.
	Ngoài ra còn một số mẹo phân biệt “ch” với “tr”, “s” với “x”. Những lỗi này học sinh trường Tiểu học Lê Lợi cũng mắc phải nhưng ít hơn. Tuy nhiên trong một số trường hợp học sinh vẫn có thể mắc lỗi. Do vậy giáo viên cần nắm được để hướng dẫn cho các em. Chẳng hạn “tr” không đứng trước những chữ bắt đầu bằng âm đệm nhưng “ch” thì có. VD: ôm choàng, bị choáng...
	“tr” không bao giờ láy với “ch” và ngược lại. Do đó chỉ có những từ láy cùng láy âm “tr” hoặc “ch” như: Chăm chỉ, trâng tráo, trân trân...
 Hoặc phân biệt s/x như: Các từ chỉ tên thức ăn hoặc đồ dùng liên quan đến thức ăn thì viết là “x”. VD: xôi, xào, xoong...
 Những từ chỉ thiên nhiên hoặc chỉ tên cây cối, các loại quả thì viết là “s”
	VD: Ngôi sao, giọt sương, sen, súng...
	Tuy nhiên tất cả những mẹo luật trên chỉ ở mức độ tương đối. Người giáo viên phải biết áp dụng linh hoạt để giảng dạy cho các em.
	* Một số điểm cần lưu ý khi dạy theo quy trình một tiết chính tả theo hướng đổi mới.
	- Bước “câu hỏi gợi ý tìm hiểu nội dung đoạn viết” là bước hiệu quả chính tả thấp. Vì nội dung hầu hết các em đã nắm được thông qua các bài tập đọc. Bước này không kéo dài sẽ lãng phí thời gian, tăng cường cho luyện tập (với những bài chính tả so sánh mà nội dung bài không có trong danh sách tập đọc thì giáo viên có thể hỏi qua về nội dung đoạn viết).
	- Bước “luyện viết chữ khó, phân biệt các cặp từ so sánh” và bước “luyện tập” có thể nhập làm thành một. Đây là bước quan trọng để giúp học sinh không mắc lỗi chính tả, giáo viên cần lưu ý.
	- Bước “chấm và chữa bài” nên đặt ở cuối cùng trong tiết học vì việc đánh giá kết quả học sinh phải đặt sau quá trình luyện tập.
	Để tiết dạy chính tả đạt kết quả cao, gây hứng thú trong học tập cho học sinh, giáo viên có thể tổ chức hoạt động học dưới hình thức trò chơi như tìm nhanh các cặp từ so sánh đối lập, tìm những bài hát ở Tiểu học có phụ âm đầu là n/l.
	Mục đích cuối cùng của bài chính tả là phải ghi nhớ các trường hợp viết đúng một cách có ý thức mà trong đó thực chất của loại bài so sánh là: giúp học sinh nắm vững nội dung ngữ, nghĩa của từ gắn với chữ viết. Giáo viên so sánh để phân biệt những trường hợp dễ lẫn lộn cho các em. Mặt khác giáo viên cần năng động, sáng tạo trong giảng dạy. Soạn ra những bài luyện tập phù hợp với các em ở địa phương mình. Cho học sinh đặt câu với những từ dễ mắc lỗi hoặc có thể đưa ra những đoạn văn, đoạn thơ trong đó có nhiều từ viết sai chính tả để học sinh tự mình phát hiện lỗi, tìm hiểu nguyên nhân sai và chữa lại cho đúng.
 Qua việc tìm hiểu nguyên nhân là: Tìm được những trọng điểm chính tả cần dạy cho học sinh trường Lê Lợi. Sau một thời gian thực hiện, kết quả thu được cuối học kì I và giữa học kỳ II năm học 2011-2012 như sau:
* Kết quả khảo sát đầu năm học 2011-2012:
Lớp
Tổng số
học sinh
Các lỗi chính tả thường mắc
l - n; ~/./
d/gi/r; tr/ch; s/x; g/gh
Cấu trúc âm tiết
5A
30
10 em
6 em
1 em
5B
31
14 em
8 em
3 em
5C
30
11 em
7 em
5 em
5D
30
12 em
6 em
3em
Kết quả cuối học kỳ I năm học 2011-2012: 
Lớp
Tổng số
học sinh
Các lỗi chính tả thường mắc
l - n; ~/./
d/gi/r; tr/ch; s/x; g/gh
Cấu trúc âm tiết
5A
30
6 em
3 em
0 em
5B
31
8 em
5 em
1 em
5C
30
7 em
4 em
2 em
5D
30
6 em
3 em
1em
Kết quả giữa học kỳ II năm học 2011-2012:
Lớp
Tổng số
học sinh
Các lỗi chính tả thường mắc
l - n; ~/./
d/gi/r; tr/ch; s/x; g/gh
Cấu trúc âm tiết
5A
30
3 em
2 em
0 em
5B
31
5 em
3 em
1 em
5C
30
 5 em
2 em
2 em
5D
30
4 em
1 em
1em
 Đây là một số hình ảnh tôi đã thực hiện dạy chính tả và luyện phát âm cho học sinh:
 *Và đặc biệt trong kỳ thi giao lưu học sinh giỏi lớp 5 do phòng giáo dục huyện tổ chức, trường Tiểu học Lê Lợi đã đạt được kết quả đáng phấn khởi đó là : 
 Có 9 em đi thi thì cả 9 em đều đạt giải, trong đó: 1 em đạt giải nhất, 3 em đạt giải ba, 5 em đạt giải khuyến khích. Đối với môn Tiếng Việt tất cả các bài thi đều đạt kết quả từ 12/20 điểm trở lên.
 Được kết quả đó một phần là do nhà trường đã áp dụng sáng kiến của đề tài vào thực tiễn.
Đây là một số hình ảnh các em đã đạt giải trong kỳ thi giao lưu học sinh giỏi lớp 5 .
 Em Phạm Văn Công – đã đạt giải nhất trong kỳ thi hs giỏi lớp 5, năm học 2011 - 2012 
 8 em HS còn lại cũng đã đạt giải trong kỳ thi giao lưu HSG lớp 5.
 PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 
1. Kết luận chung:
	Theo tôi việc xác định các trọng điểm chính tả cần dạy cho học sinh vùng phương ngữ là việc làm hết sức cần thiết và quan trọng. Chúng ta đang thực hiện luật phổ cập giáo dục Tiểu học để tạo nên một mặt bằng dân số, trình độ dân trí nhất định trong cả nước. Tuy nhiên trình độ này có đồng đều hay không điều đó tuỳ thuộc vào chất lượng giảng dạy và học tập ở mỗi địa phương. Là một giáo viên vùng nông thôn, tôi nhận thấy phải trang bị cho các em những kiến thức chuẩn mực để các em có đầy đủ năng lực để học tiếp lên các lớp trên và giao tiếp với xã hội một cách tự tin, chững chạc. Đây là một nhiệm vụ quan trọng của giáo viên giảng dạy ở các vùng nông thôn. Nhiệm vụ này không chỉ tiến hành trong một thời gian ngắn mà cho ta kết quả tốt ngay được mà phải tiến hành trong một thời gian dài.
Ngay từ đầu năm học, để thực nghiệm đề tài tôi đã chú trọng việc dạy phân môn chính tả hàng tuần, hàng tháng theo thời khoá biểu nhà trường đã xây dựng và kết hợp dạy luyện phát âm chính tả vào các buổi hướng dẫn học.
2. Đề xuất và khuyến nghị.
	Để chủ trương đổi mới phương pháp dạy học nói chung, việc dạy chính tả cho học sinh tiểu học đạt hiệu quả cao hơn tôi có một số đề xuất như sau sau:
	- Đối với công tác quản lý:
	 Cần có hướng dẫn cụ thể giúp các cấp cán bộ quản lý, giúp giáo viên có nhận thức đúng đắn hơn, đầy đủ hơn về đổi mới phương pháp dạy học.
	 Cần biên soạn những tài liệu hướng dẫn về đổi mới phương pháp dạy học phù hợp, cụ thể với từng phân môn theo từng khối lớp.
 Cần tổ chức một số chuyên đề về luyện phát âm đúng một số từ theo phương ngữ địa phương mà học sinh thường mắc phải.
	Giáo viên sau khi học tập nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ (ở các lớp học cao đẳng, đại học...) cần có chế độ chính sách rõ ràng, tạo điều kiện cho họ yên tâm công tác) thúc đẩy ý thức tự học ở mỗi người.
	- Đối với giáo viên Tiểu học:
	Phải kiên trì thực hiện đổi mới phương pháp dạy học. Cần nắm bắt rõ năng lực học tập của từng đối tượng học sinh để giảng dạy có hiệu quả. Tự học và tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ nghiệp vụ của bản thân góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường.
	- Đối với học sinh.	
	Các em học sinh phải thực hiện tốt bốn nhiệm vụ của học sinh, tích cực học tập và rèn luyện.
- Đối với nhà trường:
	Trường cần có kế hoạch từng bước xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học theo danh mục thiết bị chuẩn của Bộ Giáo dục.
	Trường cần phải lựa chọn xem cần trang bị cái gì trước, cái gì sau sao cho phù hợp với điều kiện của trường nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đồng đều tất cả các môn học hơn nữa .
	 Hợp Thanh, ngày 03 tháng 05 năm 2012
 Người thực hiện
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Tác giả : Lê Phương Nga – NXB GD 1998
2. Phương pháp dạy học Tiếng Việt 
Tác giả : Nguyễn Trí – NXB GD 1999
3. Cơ sở ngôn ngữ và Tiếng Việt 
Tác giả : Mai Ngọc Chừ – Hoàng Trọng Phiếm – NXB GD 1997
4. Giải đáp 88 câu hỏi về giảng dạy Tiếng Việt ở tiểu học
Tác giả : Lê Hữu Tỉnh – Trần Mạnh Hưởng – NXB GD 2000
5. Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Tác giả : Lê Phương Nga – Lê Hữu Tỉnh – NXB ĐHSP Hà Nội I 1995
6. SGK Tiếng Việt lớp 2, lớp 3, lớp 4 , lớp 5 – NXB GD. 
7. Giáo trình học môn học ngữ âm 
 8. Sổ tay kiến thức Tiếng Việt
 Tác giả: Đỗ Việt Hùng – NXB GD 1998 
Đánh giá xếp loại của hội đồng
khoa học các cấp

File đính kèm:

  • docSKKN_chinh_ta_lop_5.doc
Sáng Kiến Liên Quan