Kỹ thuật đặt câu hỏi trong “Dạy và học tích cực” góp phần phân loại, đồng thời phát huy tính tích cực, chủ động, tư duy sáng tạo trong học tập môn Toán của học sinh THPT

Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm vừa qua việc triển khai đổi mới chương trình, sách giáo khoa (SGK) đòi hỏi phải đổi mới phương pháp giảng dạy mới nâng cao được chất lượng giáo dục nói chung và bộ môn Toán nói riêng nhằm đáp ứng công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cùng với các phương pháp dạy học truyền thống, các phương pháp “ Dạy và học tích cực” đã được triển khai rộng rãi trong các nhà trường thông qua chương trình dự án “Việt - Bỉ” đã từng bước giúp các thầy, cô giáo và học sinh tiếp cận với các phương pháp dạy, học tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại, cách tư duy mới góp phần đào tạo nên một thế hệ thanh niên Việt Nam có tư tưởng đạo đức tốt, có trình độ khoa học kỹ thuật giỏi.

 Với tất cả tinh thần đó đề tài này tập trung vào một vấn đề trong “Dạy học tích cực” là “Kỹ thuật đặt câu hỏi trong dạy học môn Toán bậc THPT”

* Đối tượng áp dụng: Học sinh bậc học THPT

* Phạm vi nghiên cứu: Trường THPT

* Địa điểm tổ chức thực nghiệm: Học sinh trường THPT Yên Định 2, Thanh Hóa

 

doc20 trang | Chia sẻ: myhoa95 | Ngày: 26/10/2018 | Lượt xem: 442 | Lượt tải: 11Download
Bạn đang xem tài liệu "Kỹ thuật đặt câu hỏi trong “Dạy và học tích cực” góp phần phân loại, đồng thời phát huy tính tích cực, chủ động, tư duy sáng tạo trong học tập môn Toán của học sinh THPT", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
m kiểm tra khả năng phân tích nội dung vấn đề từ đó tìm ra mối liên hệ, hoặc chứng minh luận điểm, hoặc đi đến kết luận.
Tác dụng đối với học sinh: Học sinh suy nghĩ, có khả năng tìm ra được các mối liên hệ trong các hiện tượng, sự kiện, tự diễn giải hoặc đưa ra kết luận riêng, do đó phát triển được tư duy lôgic.
Cách tiến hành:
- Câu hỏi phân tích thường đòi hỏi học sinh phải trả lời: Tại sao?( Khi giải thích nguyên nhân). Em có nhận xét gì? ( Khi đi đến kết luận). Em có thể diễn đạt như thế nào?( Khi chứng minh luận điểm)
- Câu hỏi phân tích thường có nhiều lời giải.
Ví dụ:
- Tại sao trên tập hợp số phức phương trình bậc hai luôn có nghiệm? ( giải tích lớp 12)
- Em có nhận xét gì về vị trí tương đối của hai mặt phẳng nếu một trong hia mặt phẳng đó chứa một đường thẳng vuông góc với mặt phẳng kia? (HH lớp 11)
- Cho mf(P), một đường thẳng a không vuông góc với (P) và có hình chiếu trên (P) là a’, một đường thẳng b nằm trong (P) và vuông góc với a’. Em có thể diễn đạt thế nào về vị trí của b và a? ( Định lí 3 đường vuông góc trong không gian- HH lớp 11)
+Câu hỏi “Đánh giá”.
Mục tiêu: Nhằm kiểm tra khả năng đóng góp ý kiến, sự phán đoán của học sinh trong việc nhận định, đánh giá các ý tưởng, sự kiện, hiện tượng,dựa trên các tiêu chí đã được đưa ra.
Tác dụng đối với học sinh: Thúc đẩy học sinh tìm tòi tri thức, xác định giá trị.
Cách tiến hành:
 Giáo viên có thể trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra đáp án, tiêu chí đánh giá,và đặt câu hỏi yêu cầu học sinh đánh giá.
Ví dụ:
- Hiệu quả sử dụng bất đẳng thức Côsy là gì? ( Đại số lớp 10)
- Việc áp dụng giải các bất phương trình bậc nhất hai ẩn vào các bài toán kinh tế có thành công không? ( Đại số lớp 10)
- Theo em khi tính diện tích một hình phẳng, thể tích một khối đa diện sử dụng phương pháp tọa độ có lợi gì không? Tại sao?( HH lớp 10; HH lớp 12)
+ Câu hỏi “Sáng tạo”.
Mục tiêu: Nhằm kiểm tra khả năng của học sinh có thể đưa ra dự đoán, cách giải quyết vấn đề, các câu trả lời hoặc đề xuất có tính sáng tạo.
Tác dụng đối với học sinh: Kích thích sự sáng tạo của học sinh, hướng các em tìm ra nhân tố mới.
Cách tiến hành:
- Giáo viên cần tạo ra những tình huống, những câu hỏi, khiến học sinh phải suy đoán, có thể tự do đưa ra những lời giải mang tính sáng tạo riêng của mình.
- Câu hỏi tổng hợp đòi hỏi phải có nhiều thời gian chuẩn bị.
Ví dụ:
- Chứng minh bất đẳng thức Cô sy trong trường hợp tổng quát? ( Đại số lớp 10)
- Cũng hỏi như vậy đối với một số bất đẳng thức khác: Bunhiacốpxki, Becnuli, 
- Giải bài toán bằng phương pháp tọa độ ( HH lớp 12)
- Giải một số bài toán áp dụng nhị thức Niu-Tơn: Tìm hệ số của số hạng, tìm số mũ của lũy thừa, tìm số hạng,( Đại số và giải tích lớp 11).
Câu hỏi ở mức độ nhận thức càng cao thì mức độ phát triển tư duy của học sinh càng cao. Hệ thống câu hỏi trong giờ học phải giúp học sinh đạt dần tới mục tiêu chung của bài học, không quá dễ để buộc học sinh phải suy nghĩ và không quá khó để đa số học sinh có thể trả lời được.
2.3. Một số cách ứng xử khi đặt câu hỏi
Thiết kế một hệ thống câu hỏi hợp lí để hướng dẫn học sinh khám phá kiến thức, phát triển tư duy là cần thiết, song việc sử dụng các câu hỏi đó trong quá trình thảo luận ở lớp học như thế nào cho có hiệu quả?
Để câu hỏi đặt ra có hiệu quả, ngoài việc chú ý tới nội dung, cách thức đặt câu hỏi thì giáo viên cũng cần quan tâm đến cách ứng xử sau:
2.3.1. Dừng lại sau khi đặt câu hỏi.
Mục tiêu: 
 	- Tích cực hóa suy nghĩ của tất cả học sinh
 - Đưa ra các câu hỏi tốt hơn, hoàn chỉnh hơn.
Tác dụng đối với học sinh: Dành thời gian cho học sinh suy nghĩ để tìm ra câu trả lời.
Cách tiến hành: 
Sử dụng “Thời gian chờ đợi”( từ 3 - 5 giây) sau khi đưa ra câu hỏi.
Chỉ định một học sinh đưa ra câu trả lời ngay sau “Thời gian chờ đợi”
2.3.2. Tích cực hóa tất cả học sinh
Mục tiêu: 
 - Tăng cường sự tham gia của học sinh trong quá trình dạy học.
Tạo sự công bằng trong lớp học.
Tác dụng đối với học sinh: 
- Phát triển được ở các em những cảm xúc tích cực như học sinh cảm thấy “Những việc làm đó dành cho mình”.
Kích thích được các học sinh thamgia tích cực vào các hoạt động học tập.
Cách tiến hành: 
Giáo viên chuẩn bị trước các câu hỏi và nói trước với học sinh rằng các em sẽ được lần lượt trả lời các câu hỏi.
Tạo điều kiện cho học sinh tích cực và học sinh thụ động được phát biểu ý kiến.
Tránh chỉ tập trung vào một vài cá nhân tích cực.
Có thể cho một học sinh được phát biểu vài lần khác nhau.
2.3.3. Phân phối câu hỏi cho cả lớp.
Mục tiêu: 
Tăng cường sự tham gia của học sinh.
Giảm “ Thời gian nói của giáo viên”.
Thay đổi khuôn mẫu “ Hỏi - Trả lời” thông thường, hay sử dụng.
Tác dụng đối với học sinh:
Chú ý nhiều hơn các câu trả lời của bạn
Phản hồi câu trả lời của bạn
Học sinh tập trung chú ý, tham gia tích cực vào việc trả lời câu hỏi của giáo viên
Cách tiến hành:
 - Giáo viên cần chuẩn bị trước hệ thống câu hỏi tập trung vào trọng tâm của bài học theo các cấp độ nhận thức của mô hình Bloom. Giọng nói phải đủ để cả lớp nghe thấy.
 - Trong trường hợp là câu hỏi khó phải có các gợi ý nhỏ.
 - Khi chỉ định học sinh trả lời có thể sử dụng cả cử chỉ, thái độ mang tính động viên, khuyến khích, tránh mệnh lệnh, cứng nhắc, áp đặt tạo tâm lí căng thẳng trong lớp.
 - Giáo viên cố gắng hỏi nhiều học sinh. Cần chú ý hỏi những học sinh thụ động và những học sinh ngồi khuất phía sau, hoặc ccos tình làm như vậy.
Ví dụ: - Làm thế nào để chứng minh đường thẳng vuông góc với mặt phẳng? ( HH lớp 11). Sau khi một học sinh nêu các phương pháp chứng minh, giáo viên có thể hỏi một học sinh thụ động: - Em có nhận xét gì về câu trả lời của bạn?
Hoặc: - Em có bổ sung gì cho câu trả lời của bạn?
2.3.4. Tập trung vào trọng tâm. 
Mục tiêu:
 - Học sinh hiểu, ghi nhớ kiến thức trọng tâm của bài học thông qua việc trả lời câu hỏi.
 - Cải thiện tình trạng học sinh đưa ra câu trả lời: “ Em không biết” hoặc trả lời không đúng.
Tác dụng đối với học sinh:
Học sinh phải suy nghĩ, tìm ra các sai sót, các “Lỗ hổng kiến thức”.
Có cơ hội tiến bộ.
Học theo cách khám phá từng bước.
Cách tiến hành:
 - Giáo viên chuẩn bị trước và đưa cho học sinh những câu hỏi cụ thể, phù hợp với những nội dung chính của bài học.
 - Đối với các câu hỏi khó có thể đưa ra các gợi ý nhỏ cho câu trả lời.
 - Trường hợp câu hỏi phức tạp nên cho thảo luận nhóm.
 - Giáo viên dựa vào câu trả lời của học sinh để đặt tiếp câu hỏi. Cần tránh đưa ra các câu hỏi vụn vặt, câu hỏi không rõ ràng, khó hiểu hoặc đa nghĩa.
2.3.5. Phản ứng với câu trả lời của học sinh.
Mục tiêu:
Nâng cao chất lượng câu trả lời của học sinh.
Tạo ra sự tương tác cởi mở.
Khuyến khích sự trao đổi.
Tác dụng đối với học sinh: Khi giáo viên phản ứng với câu trả lời của học sinh có thể xảy ra các tình huống:
 - Phản ứng tiêu cực: Phản ứng về tình cảm, học sinh tránh không muốn tham gia vào các hoạt động có thể dẫn đến tiêu cực.
 - Phản ứng tích cực: Học sinh cảm thấy mình được tôn trọng, được kích thích phấn chấn và có thể có sáng kiến trong tương lai.
Cách tiến hành:
 - Đối với câu trả lời đúng cần khen ngợi, công nhận câu trả lời, có thể cho điểm tốt.
 - Đối với học sinh không trả lời câu hỏi: Cần hỏi lại câu hỏi bằng từ ngữ khác hoặc diễn đạt theo cách khác dễ hiểu hơn. Giải thích rõ nội dung, khái niệm trong câu hỏi. Sử dụng đồ dùng trực quan làm rõ câu hỏi, sử dụng máy chiếu Projecto,Yêu cầu học sinh xem lại tài liệu. Hỏi học sinh khác.
 - Đối với câu trả lời đúng một phần: Cần đánh giá phần trả lời đúng, đề nghị các học sinh khác bổ sung ý kiến hoàn thiện câu trả lời.
 - Đối với câu trả lời sai: Cần ghi nhận sự trả lời, không nên tỏ thái độ tức giận, chê bai, chỉ trích hoặc trách phạt gây ức chế tư duy ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh. Quan sát phản ứng của học sinh khi thấy bạn trả lời sai. Tạo cơ hội lần thứ hai cho học sinh trả lời bằng cách sử dụng câu trả lời của học sinh khác để khuyến khích học sinh tiếp tục suy nghĩ.
Ví dụ: - Bạn trả lời đã đúng chưa? Em có bổ sung gì nữa không?
Các em đóng góp ý kiến vào câu trả lời của bạn?
Nhận xét câu trả lời chưa chính xác ở đâu và tại sao, hỏi tiếp những câu hỏi khác giúp học sinh hiểu vì sao câu trả lời chưa chính xác.
2.3.5. Giải thích. 
Mục tiêu: Nâng cao chất lượng của câu trả lời chưa hoàn chỉnh.
Tác dụng đối với học sinh:
Đưa ra câu trả lời hoàn chỉnh hơn
Hiểu được ý nghĩa của câu trả lời, từ đó hiểu được bài.
 Cách tiến hành:
 Giáo viên có thể đặt ra các câu hỏi yêu cầu học sinh đưa thêm thông tin.
Ví dụ: - “ Tốt, nhưng em có thể đưa thêm một số lý do khác không?”
“ Em có thể chứng minh theo cách khác được không, thầy chưa hiểu ý em?”
2.3.6. Liên hệ.
Mục tiêu: Nâng cao chất lượng của các câu trả lời, phát triển mối liên hệ trong qua trình tư duy.
Tác dụng đối với học sinh: Học sinh có thể hiểu sâu hơn bài học thông qua việc liên hệ với các kiến thức khác hoặc liên hệ với thực tế.
Cách tiến hành: Yêu cầu học sinh liên hệ các câu trả lời của mình với những kiến thức đã học của môn học và những môn học có liên quan.
Ví dụ:- Sau khi học xong phần phép giải tam giác ( HH lớp 10) yêu cầu học sinh áp dụng đo chiều cao của cây, vật, đo khoảng cách, mà ta không đo trực tiếp được.
 - Giải các bài toán tìm GTLN và GTNN trong thực tế, trong môn Vật lý, môn Hóa, sau khi học xong bài GTLN và GTNN của hàm số.
2.3.7. Tránh nhắc lại câu hỏi của mình.
Mục tiêu:
Giảm “ Thời gian giáo viên nói”.
Thúc đẩy sự tham gia tích cực của học sinh.
Tác dụng đối với học sinh:
Chú ý nghe lời giáo viên nói hơn.
Có nhiều thời gian để học sinh trả lời hơn.
Tham gia tích cực hơn vào các hoạt động thảo luận.
Cách tiến hành: Chuẩn bị trước câu hỏi và có cách hỏi rõ ràng, xúc tích, áp dụng tổng hợp các kỹ năng nhỏ.
2.3.8. Tránh tự trả lời câu hỏi của mình.
Mục tiêu:
Tăng cường sự tham gia của học sinh.
Hạn chế sự can thiệp của giáo viên.
Tác dụng đối với học sinh:
 - Học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập như suy nghĩ để giải bài tập, thảo luận, phát biểu để tìm tri thức,
 - Thúc đẩy sự tương tác giữa giáo viên và học sinh, học sinh và học sinh
Cách tiến hành:
 - Tạo ra sự tương tác giữa giáo viên với học sinh là cho giờ học không bị đơn điệu.
 - Nếu có học sinh chưa rõ câu hỏi, giáo viên cần chỉ định một học sinh nhắc lại câu hỏi.
2.3.9. Tránh nhắc lại câu trả lời của học sinh.
Mục tiêu:
 - Phát triển mô hình sự tương tác giữa học sinh và học sinh., tăng cường tính độc lập của học sinh.
 - Giảm thời gian nói của giáo viên.
Tác dụng đối với học sinh:
 - Phát triển khả năng tham gia vào hoạt động thảo luận và nhận xét các câu trả lời của nhau.
 - Thúc đẩy học sinh tự tìm câu trả lời hoàn chỉnh.
Cách tiến hành: Để đánh giá được câu trả lời của học sinh đúng hay chưa đúng, giáo viên nên chỉ định các học sinh khác nhận xét về câu trả lời của bạn, sau đó giáo viên kết luận.
Bên cạnh việc đặt câu hỏi nhằm kích thích, gợi ý học sinh suy nghĩ ở những cấp độ tư duy khác nhau, giáo viên cần hướng dẫn, khuyến khích và tạo điều kiện từng bước để học sinh tập đặt câu hỏi đối với giáo viên, với bạn bè trong nhóm, trong lớp về những nội dung, vấn đề chưa hiểu, chưa rõ cần giải thích, tranh luận hoặc bày tỏ suy nghĩ, ý tưởng của mình. Khi học sinh biết đặt câu hỏi trong quá trình học tập thì việc học của các em sẽ trở nên tích cực và có ý nghĩa.
Chương III. HỆ THỐNG CÂU HỎI TRONG BÀI TẬP, BÀI SOẠN.
3.1. Hệ thống câu hỏi trong bài tập.
 Tùy cấp độ nhận thức, tư duy mà giáo viên chọn hệ thống câu hỏi cho từng loại bài tập khác nhau.
3.2. Các ví dụ:
VD 1: Sau khi học bài “Phép cộng vec tơ”( HH lớp 10), có thể đặt câu hỏi:
H1: Định nghĩa tổng của hai vec tơ. Nêu quy tắc thực hành để cộng hai vec tơ?
( Cấp độ biết)
H2: Nêu quy tắc thực hành cộng nhiều vec tơ? Cho ví dụ ? ( Cấp độ hiểu)
VD 2: Cho tam giác ABC. Gọi M, N, P lần lượt là trung điểm các cạnh BC, AC, AB.
Tính: ( Cấp độ hiểu).
Các câu hỏi nêu trong các bài tập giáo viên căn cứ vào trình độ của học sinh mà thay đổi hình thức.
VD 3: Giải bất phương trình: có thể hỏi cách khác như sau:
H1: Tìm tập xác định của hàm số: . Hoặc có thể hỏi:
H2: Tìm những giá trị của x để đồ thị hàm số không nằm dưới trục hoành.
VD 4: Cho hình chóp S.ABC có đáy ABC là tam giác không vuông, cạnh bên SA vuông góc với đáy. Gọi H, K lần lượt là trực tâm các tam giác ABC và SBC. Chứng minh rằng: 
AH, SK, BC đồng quy.
HK vuông góc với mf(SBC).
Câu a) dành cho học sinh yếu ,trung bình, giáo viên có thể đặt câu hỏi gợi ý:
H: Để chứng minh AH, SK, BC đồng quy ta phải chứng minh điều gì?
Câu b) dành cho học sinh khá, giỏi. Tuy nhiên nếu giáo viên chọn hệ thống câu hỏi phù hợp thì học sinh trung bình cũng có thể làm được.Chẳng hạn:
H: Hãy chứng minh SC vuông góc với mf(BHK)?
VD 5: Sau khi học xong bài phương trình lượng giác cơ bản giáo viên có thể đưa ra hệ thống bài tập và câu hỏi:
H1: Giải các phương trình sau và biểu diễn nghiệm trên đường tròn lượng giác:
( Cấp độ biết), học sinh yếu, kém phải tái hiện lại công thức nghiệm và biểu diễn nghiệm trên đường tròn lượng giác.
H2: Giải phương trình sau và biểu diễn nghiệm trên đường tròn lượng giác:
 ( Cấp độ hiểu), dành cho học sinh trung bình.
H3: Giải phương trình sau và biểu diễn nghiệm trên đường tròn lượng giác:
.
3.2. Hệ thống câu hỏi trong bài soạn.
Để thành công trong một tiết dạy theo hướng “ Dạy và học tích cực”, khi soạn bài lên lớp giáo viên cần chuẩn bị hệ thống câu hỏi phù hợp với nội dung, đơn vị kiến thức, đối tượng học sinh. Theo hướng đặt và giải quyết vấn đề tác giả đã trình bày trong chuyên đề: “ Thiết kế bài dạy và tổ chức các hoạt động trên lớp góp phần phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập môn Toán của học sinh THPT”.
Soạn hệ thống câu hỏi, bài tập trong tiết dạy giáo viên nên chuẩn bị “Phiếu học tập”
cho từng cấp độ kiến thức, như vậy việc phân nhóm học tập cũng phải khoa học để nâng cao khả năng nhận thức.
Ví dụ: Khi soạn bài “ Hai đường thẳng vuông góc” ( Tiết thứ 2)( HH lớp 11) giáo viên có thể chọn hệ thống câu hỏi như sau:
Kiểm tra bài cũ: 
Cho tứ diện ABCD có tất cả các cạnh đều bằng a. Gọi M, N, P lần lượt là trung điểm các cạnh AB, BC, CD. Tính góc giữa các cặp đường thẳng sau:
MN và AD.
MN và NP.
AN và BD.
Giáo viên chuẩn bị phiếu học tập cho 3 nhóm đối tượng:
Phiếu số 1 cho nhóm học sinh yếu: câu a)
Phiếu số 2 cho nhóm học sinh trung bình: câu b)
Phiếu số 3 cho nhóm học sinh khá: câu c).
Trong quá trình giảng dạy giáo viên đã biết được khả năng nhận thức của học sinh rồi 
Tuy nhiên chúng ta phải lưu ý duy trì trật tự, không khí lớp học. Việc phân loại câu hỏi không phải là phân biệt đối xử trong giảng dạy. Khi học sinh trình bày xong giáo viên có thể cho nhận xét để mọi học sinh có thể hiểu được lời giải của bạn, giáo viên có thể chiếu kết quả và nhấn mạnh lại những điểm cần thiết.
a) Từ gt góc giữa hai đường thẳng MN và AD là góc giữa hai đường thẳng AC và AD, do đó góc giữa MN và AD bằng 600 ( do tam giác ACD đều)
b) Góc giữa MN và NP bằng góc giữa AC và BD. Ta có: 
góc giữa MN và NP bằng 900.
c) Góc giữa AN và AD là góc giữa AN và NP bằng . Ta có : . Vậy góc giữa AN và AD bằng sao cho .
Bài mới: Hai đường thẳng vuông góc.
GV cho học sinh đọc định nghia, kí hiệu trong SGK
H: Hãy kể tên các cặp đường thẳng vuông góc trong bài tập trên?
HS: AC và BD, AB và CD, AD và BC, MN và NP, MN và AD, NP và AB.
GV kết luận: Hai đường thẳng vuông góc với nhau có thể cắt nhau hoặc chéo nhau.
H: Cho hai vec tơ lần lượt là hai vec tơ chỉ phương của hai đượng thẳng a và b. Đường thẳng thì hai vec tơ chỉ phương có quan hệ gì?
HS: 
H: Hãy suy ra cách chứng minh hai đường thẳng vuông góc trong không gian?
HS: Để chứng minh hai đường thẳng vuông góc với nhau, ta chứng minh tích vô hướng của hai vec tơ chỉ phương của hai đường thẳng đó bằng 0.
H: Cho a // b, a thì b và c có quan hệ gì? 
HS: 
H: Suy ra cách chứng minh hai đường thẳng vuông góc?
HS: Để chứng minh hai đường thẳng vuông góc với nhau, ta chứng minh một trong hai đường thẳng đó song song với đường thẳng thứ ba, đường còn lại vuông góc với đường thẳng thứ ba đó.
H: Tìm những ví dụ trong thực tế để minh họa cho sự vuông góc của hai đường thẳng trong không gian ( Cắt nhau và chéo nhau)
HS: Nêu các ví dụ thực tế, chẳng hạn trong kết cấu nhà, cầu, trò chơi,
Bài tập áp dụng:
VD 1:
H: Cho tứ diện ABCD. Từ đẳng thức: , hãy suy ra rằng nếu có AB CD, AC BD thì AD BC.
HS: Do AB CD, AC BD , vậy từ đẳng thức trên ta có .
GV kết luận: Nếu một tứ diện có hai cặp cạnh đối diện vuông góc với nhau thì cặp cạnh đối diện còn lại cũng vuông góc với nhau.
VD 2:
H: Cho hình chóp tam giác S. ABC có SA = SB = SC, . Chứng minh rằng: SA .
H: Hãy nêu cách chứng minh SA 
HS: Ta có thể chứng minh , vì theo giả thiết khó xác định góc giữa SA và BC .
H: Tính 
HS: . 
Vậy SA . 
GV: Tương tự ta cũng chứng minh được: .
Chương III. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM. KẾT LUẬN.
3.1. Thực nghiệm sư phạm:
Đề tài này được triển khai trong 3 năm học: 
Năm học 2010 - 2011 trên các lớp 10B1, 10B3, 10B5.
Năm học 2011 - 2012 trên các lớp 11B1, 11B3, 11B7
Năm học 2012 - 2013 trên các lớp 12B1, 12B3, 12B7.
Địa điểm: trường THPT yên Định 2, Tỉnh Thanh Hóa.
Bảng kết quả 
Năm học 2010- 2011
Lớp
Sĩ số
Kết quả
Khá, giỏi
Trung bình
Yếu, kém
SL
%
SL
%
SL
%
10B1
47
42
89.4
5
10.6
0
0
10B3
48
25
52
15
31.3
8
16.7
10B5
45
13
28.9
20
44.4
12
26.7
Năm học 2011- 2012
Lớp
Sĩ số
Kết quả
Khá, giỏi
Trung bình
Yếu, kém
SL
%
SL
%
SL
%
11B1
47
44
93.6
3
6.4
0
0
11B3
48
30
62.5
12
25
6
12.5
11B7
40
15
37.5
17
42.5
8
20
Học kỳ I Năm học 2012- 2013
Lớp
Sĩ số
Kết quả
Khá, giỏi
Trung bình
Yếu, kém
SL
%
SL
%
SL
%
12B1
47
47
100
0
0
0
0
12B3
48
43
89.6
5
10.4
0
0
12B7
38
18
47.5
16
42
4
10.5
3.2 Kết luận
 Đặt câu hỏi là kỹ năng quan trọng đối với mỗi giáo viên, với tác dụng khuyến khích, kích thích tư duy của học sinh, hướng các em vào nội dung bài học, đồng thời giúp học sinh ghi nhớ kiến thức và tự kiểm tra kiến thức sau khi giáo viên đặt câu hỏi. Học sinh có thể tự đánh giá mức độ hiểu bài của mình qua các câu hỏi và kịp thời bổ sung kiến thức thông qua việc trả lời các câu hỏi của các bạn, kết luận của thầy cô giáo. Thông qua hệ thống câu hỏi của một tiết dạy hoặc một đơn vị kiến thức giáo viên nắm bắt được cấp độ nhận thức, khả năng tư duy của học sinh để điều chỉnh phương pháp giảng dạy hợp lý. Tác dụng của phương pháp vấn đáp, gợi mở phụ thuộc nhiều vào kĩ thuật đặt câu hỏi và kĩ năng hỏi của giáo viên. Nếu câu hỏi quá khó, không rõ ràng, đa nghĩa, khó hiểu học sinh sẽ khó trả lời, trả lời sai làm mất thời gian của lớp học, tạo không khí căng thẳng, ảnh hưởng đến sự tiếp thu kiến thức của các em. Ngược lại nếu câu hỏi quá dễ, chỉ dường lại ở mức nhắc lại kiến thức, hoặc giáo viên dùng nhiều câu hỏi đóng cũng gây sự nhàm chán, mất thời gian, không kích thích sự phát triển tư duy của học sinh khá, giỏi. Câu hỏi lan man, không đúng trọng tâm của bài học cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả tiết dạy của giáo viên, học tập của học sinh.
 Câu hỏi chuẩn bị tốt nhưng kĩ năng hỏi không tốt thì hiệu quả cũng không cao: Yêu cầu học sinh trả lời ngay sau khi đưa ra câu hỏi làm cho học sinh hoàn toàn bị động sẽ dẫn đến không trả lời được hoặc trả lời sai.
 Vì vậy giáo viên cần rèn luyện kĩ năng đặt câu hỏi và kỹ năng hỏi. Đồng thời trong một tiết dạy không nên áp dụng duy nhất phương pháp vấn đáp mà phải kết hợp nhuần nhuyễn, hợp lý các phương pháp dạy học để đem lại hiệu quả cao trong nhận thức và tư duy của học sinh.
 Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo nói chung và các thầy cô dạy bộ môn Toán ở các trường THPT trong toàn tỉnh và cả nước về đề tài này góp phần nâng cao chất lượng dạy học nói chung và bộ môn oán nói riêng.
 Tác giả xin chân thành cảm ơn mọi đóng góp quý báu đó.
Mọi liên hệ xin gửi về:
Lê Khắc Khuyến: trường THPT Yên Định 2, Thanh Hóa
Điện thoại: 0915.089.029
Email: lekhackhuyen@gmai.com
 Tôi xin cam đoan SKKN này của bản thân viết, không sao chép của bất kỳ ai
 Yên Định mùa xuân 2013.
 Xác nhận của đơn vị Người viết
 Lê Khắc Khuyến

File đính kèm:

  • docskkn_ky_thuat_dat_cau_hoi_trong_day_hoc_tich_cuc_gop_phan_phan_loai_dong_thoi_phat_huy_tinh_tich_cuc.doc
Sáng Kiến Liên Quan