Giáo dục bảo vệ môi trường thông qua môn Địa lí lớp 7

I .LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Giữa môi trường và con người chúng ta có mối quan hệ mật thiết với nhau và từ khi con người sinh ra đó là mối quan hệ hòa thuận. Cùng với sự tiến bộ của xã hội loài người và theo thời gian dân số ngày một tăng lên, nhu cầu của con người ngày càng phức tạp hơn. sự hiểu biết về môi trường không đầy đủ khiến cho mối quan hệ trở nên “mâu thuẫn”, nhận thức đó đã dấn đến một loạt các sự cố về môi trường ( Hiệu ứng nhà kính, lỗ thủng tầng ô zôn, trái đất nóng lên, ô nhiễm môi trường .). Tình hình đó đã đặt ra cho toàn nhân loại một thảm họa, để khắc phục thảm họa đó các cuộc hội thảo, hội nghị ở tầm cỡ quốc tế đã diễn ra:

- Từ ngày mồng 5 đến ngày 16 tháng 6 năm 1972 hội nghi quốc tế về môi trường và con người được tổ chức tại Stốc khôm(Thụy Điển ).

-Từ ngày 13 đến ngày 22 tháng 10 năm 1975, IEEP đã tổ chức hội thảo hội thảo quốc tế về giáo dục môi trường ( GDMT ) tại Bêôgrat.

-Tháng 11 – 1976 hội thảo môi trường ở châu Á được tổ chức tại Băng Cốc ( Thái Lan ).

- Ngày 14 đến ngày 26 tháng 10 năm 1977 hội nghị quốc tế về GDMT được tổ chức tại Tbilisi ( Gru dia ).

- Từ ngày 17 đến ngày 21 tháng 8 năm 1987 UNESCO và UNEP tổ chức hội nghị quốc tế về GDMT tại Matxcơva.

 Tất cả những kì hội nghị, hội thảo trên mặc dù diễn ra trong khoảng thời gian khác nhau nhưng đều có một điểm chung là nhấn mạnh mối quan hệ giữa con người và sinh quyển trong mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục. GDMT đã vượt ra khỏi biên giới chính trị, tư tưởng của các quốc gia trên thế giới.

 

doc12 trang | Chia sẻ: thuhong87 | Ngày: 05/03/2019 | Lượt xem: 254 | Lượt tải: 2Download
Bạn đang xem tài liệu "Giáo dục bảo vệ môi trường thông qua môn Địa lí lớp 7", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
iệt trong chương trình giáo dục phổ thông ở các cấp bậc học. Với tư cách là một giáo viên, một công dân đang sinh sống và giảng dạy dưới mái trường của một nước xã hội chủ nghĩa tôi luôn băn khoăn và nhận thức sâu sắc về trách nhiệm của mình về vấn đề nói trên.
Qua một thời gian công tác tại trường trung học cơ sở (THCS) tôi đã nhận thấy ý thức bảo vệ môi trường của đa số học sinh chưa cao. Bên cạnh đó còn có tình trạng học sinh cho rằng bảo vệ môi trường là trách nhiệm của chính quyền hoặc của người lớn.Thực trạng đó đã làm hạn chế đến quá trình phát triển kinh tế nước nhà, gây ra tác hại cho sức khỏe cộng đồng. Vì vậy vấn đề tìm ra những biện pháp để bảo vệ môi trường ở địa phương, đất nước và toàn cầu đang cần được quan tâm.
 	Đã có không ít những tác giả đã đưa ra vấn đề này ở nhiều tác phẩm với nhiều góc độ khác nhau:
Lê Thông, Nguyễn Hữu Dũng trong cuốn “ Dân số môi trường và tài nguyên “, Nhà xuất bản giáo dục – 2000.
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng, Nguyễn Phi Hạnh, Đặng Văn Đức trong cuốn “ Giáo dục môi trường qua môn Địa Lí ở trường phổ thông”, Nhà xuất bản Hà Nội – 2003.
Tác giả Nguyễn Đình Khoa trong cuốn “ Môi trường sống và con người “, Nhà xuất bản Hà Nội – 1987.
Ngoài ra còn nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề môi trường ở nhiều góc độ khác nhau. 
Kết quả nghiên cứu của các tác giả là hết sức to lớn. Song những vấn đề đó được đề cập ở phạm vi rộng lớn và mang tính bao quát. Vì thế vấn đề nhận thức về môi trường ở HS lớp 7 trường PTDTBT- THCS Sủng Trái nói riêng và ở cấp THCS của khu vực , miền núi nói chung chưa thực sự được quan tâm sâu sát.
2 . Đối tượng :
Qua bài tổng kết kinh nghiệm này đối tượng được lựa chọn là học sinh trường PTDTBT- THCS Sủng Trái với nhiệm vụ chính là tìm hiểu thực trạng bảo vệ môi trường của học sinh ở trường PTDTBT- THCS Sủng Trái . Đồng thời tìm hiểu những nguyên nhân cũng như đưa ra những biện pháp cụ thể để khắc phục thực trạng đó.
Tuy nhiên do hạn chế về khả năng làm bài tổng kết kinh nghiệm cũng như thời gian để nghiên cứu và nhiều yếu tố khách quan khác mà bài tổng kết này chỉ được tiến hành ở phạm vi là 4 lớp khối 7 của trường PTDTBT- THCS Sủng Trái.
III .MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích cuối cùng của giáo dục môi trường là tiến tới xã hội hóa các vấn đề môi trường, nghĩa là tạo ra các công dân  có  nhận  thức,  có  trách  nhiệm  với môi trường, biết sống vì môi trường.
Một khi các vấn đề môi trường đã được xã hội hóa thì những lợi ích kinh tế cho cộng đồng ngày một gia tăng và đặc biệt  hiệu  lực  quản  lý  nhà  nước  tăng nhưng gánh nặng chi phí sẽ giảm. Do đó, những kết quả nghiên cứu về môi trường và các phương pháp khắc phục ở nhiều quốc gia trên thế giới đã đi đến kết luận chung là: không có giải pháp nào kinh tế và hiệu quả bằng việc đầu tư vào con người thông qua công tác giáo dục môi trường. 
IV .ĐIỂM MỚI TRONG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
Dựa trên cơ sở thực tế từ đó tôi chọn viết bài . “giáo dục bảo vệ môi trường thông qua môn địa lí lớp 7” đã áp dụng cho các em học sinh trường tôi và sau quá trình thực hiện tôi thấy đã đem lại hiệu quả thiết thực,việc giáo giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ môi trường .làm cho môi trường xanh –sạch - đẹp mà còn đem lại khoản tiền nhỏ để đóng góp cho quỹ đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh hoạt động. đây là nội dung hoạt động có tính lâu dài.
PHẦN 2: NỘI DUNG
I: CƠ SỞ LÝ LUẬN.
* Đặc điểm về môi trường:
1.1: Khái niệm về môi trường:
Khái niệm về “môi trường” là một khái niệm phức tạp có phạm vi rộng lớn. Với bài tổng kết kinh nghiệm này chỉ nêu ra một số khái niệm ở những góc độ dễ hiểu nhất. Theo nghĩa rộng nhất thì:” Môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật thể hay một sự kiện ”. Theo nghĩa đen:“ Môi trường là một vùng vật lí và sinh học xung quanh loài người có mối quan hệ chặt chẽ với con người”.
1.2: Các loại môi trường:
+ Môi trường khí quyển.
+ Môi trường nước.
+ Môi trường đất.
+ Môi trường sinh học.
+ Môi trường đô thị.
II Cơ sở thực tiễn
*Phương pháp giáo dục môi trường qua môn địa lí lớp 7.
1:Khái niệm về giáo dục:
 	Khái niệm giáo dục được hiểu theo hai nghĩa, nghĩa rộng:“ Giáo dục bao gồm cả việc dạy lẫn việc học cùng với hệ thống các tác động sư phạm khác diễn ra trong và ngoài lớp, trong và ngoài nhà trường cũng như trong gia đình và ngoài xã hội”. Còn theo nghĩa hẹp:“ Giáo dục được hiểu như là quá trình tác động tới thế hệ trẻ về mặt đạo đức tư tưởng và hành vi... nhằm hình thành niềm tin, lí tưởng, động cơ, tinh cảm, thái độ và những thói quen hành vi cư xử đúng đắn trong xã hội”.
 	2: Khái niệm GDMT:
 	Theo hội nghi GDMT ở Tbilisi, 1977:
 	“GDMT là một bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục. Nó nên được tập trung vào những vấn đề thực tiễn và mang tính chất liên thông. Nó nên nhằm vào xây dựng giá trị, đóng góp vào sự nghiệp phồn vinh của cộng đồng và liên quan đến sự sống của nhân loại, ảnh hưởng của nó nên ở thời gian khởi đầu của người học và liên quan đến môi trưởng của họ trong hoạt động. Nó nên được hướng dẫn ở cả các môn học hiện tại và tương lai có liên quan”.
 	3: Các phương pháp GDMT:
 	- Phương pháp giảng thuật.
 	- Phương pháp giảng giải.
 	- Phương pháp đàm thoại.
.	- Phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan. 
 	- Phương pháp thí nghiệm.
 	- Phương pháp gạn lọc các giá trị. 
 	- Phương pháp thảo luận.
 	- Phương pháp đóng vai.
 	- Phương pháp nghiên cứu tình huống.
 	- Phương pháp thực địa.
 	- Phương pháp động não.
Trên đây là những phương pháp cụ thể để thực hiện mục đích cuối cùng là GDMT cho học sinh trên địa bàn.
II CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.Thực trạng chung
 	Ngay từ năm 1960 vấn đề bảo vệ môi trường đã được đặt ra nghiêm túc và đã được nghiên cứu để tích hợp vào chương trình dạy học ở các trường THCS nhưng với mức độ còn hạn chế. Đầu thập kỉ 80 nội dung GDMT đã được tích hợp vào chương trình giảng dạy các môn có nhiều khả năng tích hợp, trong đó môn Địa Lí được coi là phù hợp nhất. Tuy nhiên chương trình GDMT ở trường THCS nói riêng và các cấp bập học khác nói chung chưa thống nhất. Các phương pháp GDMT còn nặng về cung cấp kiến thức hơn là hình thành thái độ xúc cảm, hành vi quan tâm đến môi trường và vì môi trường cho học sinh.
2 Thực trạng cụ thể
Thực trạng ý thức về môi trường của học sinh trường PTDTBT- THCS Sủng Trái :
 	Với đặc thù là một ngôi trường đóng chân trên địa bàn có mặt bằng dân trí còn thấp, do đó ý thức về môi trường của các em còn ở mức độ mơ hồ. Chẳng hạn như “ Không vào rừng chặt phá bừa bãi những cây gỗ lớn” là đã bảo vệ môi trường, nhưng bên cạnh đó còn có rất nhiều vấn đề gần gũi như bảo vệ khuôn viên trường học, đường làng ngõ xóm, trồng nhiều cây xanh... đó là chưa kể nhìn ở góc độ xa hơn là thực trạng đốt rừng tự nhiên lấy đất trồng hoa màu mà không đi đôi với công tác bảo vệ rừng và trồng thêm nhiều rừng mới ...
3 Phân tích,đánh giá các vấn đề thực trạng 
Để nắm rõ về mức độ cụ thể bài tổng kết kinh nghiệm đã tiến hành điều tra với một loạt các câu hỏi trắc nghiệm được tiến hành trên 100 học sinh kết quả thu được như sau:
Lớp
7A
%
7B
%
7C
%
Sĩ số lớp
31
100
30
100
32
100
Số lượng học sinh trả lời chưa đạt
17
54,8
20
66,7
18
56,25
Số lượng học sinh trả lời đạt
14
45,2
10
33,3
14
43,75
 	Đây chỉ là những câu trắc nghiệm đơn giản nhưng tỉ lệ học sinh trả lời đúng còn thấp. Qua đó chứng tỏ ý thức về môi trường của học sinh còn thấp, gây khó khăn cho việc bảo vệ môi trường.
4 Kết quả khảo sát :
Với học sinh: Khi đưa ra câu hỏi “ Em chưa thực sự tham gia vào công tác bảo vệ môi trường là do đâu ? ”. Hầu hết đều có chung một câu trả lời “ Em chẳng biết tham gia như thế nào,ai hướng dẫn”.Như vậy nhìn từ phía học sinh nguyên nhân là do các em chưa hiểu được là phải làm gì để bảo vệ môi trường, còn mơ hồ trong nhận thức, còn thờ ơ trước những thay đổi theo chiều hướng tiêu cực của môi trường và quá quen với những phong tục tập quán lạc hậu đã có từ lâu, dẫn đến ý thức về bảo vệ môi trường còn hạn chế.
III CÁC GIẢI PHÁP,BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
A. Các giải pháp:
1: Mục tiêu và nội dung đề ra:
Công việc này tùy thuộc vào nội dung cụ thể của bài học đó. Nếu như bài học tập trung vào phát triển các giá trị, quan điểm thì phương pháp đóng vai và thảo luận là thích hợp. Còn nội dung dạy về môi trường trong quá khứ thì phương pháp thực địa lại có hiệu quả hơn.
 2: Đặc điểm của người học:
 	Đây là vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến phương pháp giảng dạy. Với học sinh THCS khi dạy giáo viên có thể sử dụng các mô hình, mẫu vật.Với đặc điểm mà bài tổng kết tiến hành người học chủ yếu là HS lớp 7do đó quá trình giảng dạy thường diễn ra ở mức độ thấp hơn. Dù ở lứa tuổi nào đi nữa học sinh cũng sẽ cảm thấy được cổ vũ nếu có sự tham gia của giáo viên trong quá trình học tập.
3: Nguồn tài liệu:
 	Với giáo viên: Ngoài sách giáo khoa còn có sách giáo viên, bản đồ nên sưu tầm một số tranh ảnh liên quan nơi học sinh đang sinh sống. 
 	Với học sinh sách giáo khoa là nguồn tài liệu chính cùng với tập bản đồ học sinh chủ động chuẩn bị ở nhà.
4: Vai trò của nhà trường và địa phương:
 	Là một phần học đặc biệt, để tiết dạy có ý nghĩa thiết thực trong hoạt động ngoại khóa nhà trường tạo điều kiện trong việc lựa chọn thời gian, phòng học và chỉ đạo.
 	Địa phương là một tiêu điểm để lựa chọn, thiết kế và thực hiện các bài học liên quan đến nhu cầu và điều kiện sống, ngoài ra kinh nghiệm của nhân dân cũng có tác dụng rất lớn.
B. Biện pháp thực hiện: 
 	I. Hoạt đông nội khóa:
 1: Phương pháp giảng thuật: 
 	Với phương pháp này nặng về mô tả sự vật hiện tượng, bằng lời nói truyền cảm giáo viên giáo dục cho học sinh lòng yêu thiên nhiên và có ý thức về môi trường.
 	Ví dụ: Bài 9 “ Hoạt động sản xuất nông nghiệp ở đới nóng ” – Địa lí 7.
Quan sát hình: 9.4, giáo viên giới thiệu nội dung của mỗi bức hình A, B, C, D. Đặt câu hỏi “ Em hãy nêu quá trình thoái hóa đất do đốt rừng làm nương rẫy ở đới nóng ?”.
Hình
A
B
C
D
Nội dung.
Rừng nguyên sinh.
Cây bụi .
Trảng cỏ.
Đất bạc màu.
2: Phương pháp giảng giải:
Chủ yếu của phương pháp này là dùng lời nói, để giải thích các vấn đề vạch ra bản chất của mối quan hệ và nguyên nhân của chúng.
Ví dụ: “Khi dạy bài dân số và sức ép dân số tới tài nguyên môi trường ở đới nóng”_ Địa lí 7. Nói đến hiện tượng cạn kiệt tài nguyên cần phải hình thành các khái niệm:Tài nguyên phục hồi là tài nguyên có khả năng trở lại bình thường nếu biết cách khai thác, bảo vệ( Tài nguyên rừng, tài nguyên đất ...). Còn tài nguyên không phục hồi là tài nguyên được hình thành trong thời gian dài và không có khả năng phục hồi ( Tài nguyên khoáng sản năng lượng, khoáng sản kim lọai ...).
 3: Phương pháp đàm thoại:
 	Phương pháp này thường được sử dụng nhiều trong giảng dạy, với những câu hỏi giả định “ Sẽ ra sao, nếu như, chẳng hạn như...”.
 	Ví dụ: Khi dạy bài“ Ô nhiễm môi trường ở đới ôn hòa”-Địa lí 7.
Cho học sinh quan sát hình: 17.3 “ Thủy triều đen ”, giáo viên sử dụng phương pháp vây quanh “ Nguyên nhân - hậu quả ”. Ta có thể hình thành sơ đồ như sau:
ít ô nhiễm
ít ô nhiễm
Công việc
mới
Cần nguồn năng lượng mới
Hình thành công nghiệp khác
Cần nguồn năng lượng mới
Không có hoạt động công nghiệp
Không khai thác dầu
Công ti dầu phá sản
Thất nghiệp
Đói nghèo
Các vấn đề xã hội xảy ra
4: Phương pháp sử dụng phương tiện trực quan:
 Bao gồm các phương tiện trực quan: Biểu đồ, bản đồ, tranh, ảnh, băng hình ( Nếu có điều kiện sử dụng ) sẽ gây hứng thú cho học sinh. Tùy thuộc vào nội dung bài dạy mà có thể sử dụng những phương tiện trực quan thích hợp. 
Ví dụ : Khi dạy bài 8 “ Các hình thức canh tác trong nông nghiệp ở đới nóng” – Địa lí 7, với hình: 8.1 “ Đốt rừng làm nương rẫy”. Nếu có điều kiện nên cho học sinh xem phim tư liệu, băng hình với các bước sau:
 	+ Định hướng cho học sinh nắm được: Mục đích yêu cầu của bài.
 	+ Bước sử dụng: Giáo viên nên chia làm nhiều đoạn phim, một đoạn tương ứng với một ý ghi bảng.
 	+ Bước kết thúc: Giáo viên nêu lại nội dung và đặt câu hỏi kiểm tra trí nhớ học sinh bằng câu hỏi suy luận. “ Hậu quả của việc phá rừng làm rẫy ?”
Hậu quả
Rừng bị tàn phá
Đất bị xói mòn
Thiên tai
Cả 3 hậu quả trên
Phương án lựa chọn
 ( Hãy chọn phương án đúng nhất).
5: Phương pháp thí nghiệm:
 Dựa trên những kiến thức đã học để minh họa cho một vấn đề đặt ra.
 	Ví dụ: Dạy bài 17 “ Ô nhiễm môi trường ở đới ôn hòa” – Địa lí 7. Nếu để lí giải cho nguồn nước ở gần nhà máy bị ô nhiễm thì học sinh sẽ ghi nhớ một cách thụ động, hãy để học sinh khám phá bằng một thí nghiệm tự làm ở nhà :Lấy hai lọ nước đựng vào hai lọ thủy tinh chiều dài 20 cm, đường kính rộng 10 cm ở hai vị trí khác nhau ( Một lọ gần lò gạch, một lọ xa lò gạch), hai lọ để gần nhau sau 2 đến 3 giờ đồng hồ cho học sinh quan sát kĩ dưới đáy 2 lọ. Học sinh xác định được lọ nào nước sạch lọ nào nước bẩn.
6: Phương pháp thảo luận:
 	Đây là quá trình trao đổi ý kiến về một chủ đề giữa giáo viên và học sinh với nhau. Để thực hiện phương pháp này thành công giáo viên hơn ai hết cần chủ động tiến hành theo bốn bước sau: 
 	Bước 1: Chọn nội dung, chọn bài để thảo luận, thông thường nội dung không quá khó nhưng lại là vấn đề đang được nhiều người quan tâm.
 	Bước 2: Giao việc về nhà cho mỗi nhóm hoc sinh.
 	Bước 3: Tiến hành thảo luận.
 Các nhóm làm việc theo sự phân công về nhà, bầu nhóm trưởng thư kí và đi đến thảo luận báo cáo kết quả. 
 	Bước 4: Tổng kết thảo luận.
 Phần này giáo viên giám sát hướng dẫn trên ý kiến các nhóm đã trình bày.
 	Ví dụ: Trong bài 10 “ Dân số và sức ép dân số tới tài nguyên môi trường ở đới nóng”- Địa lí 7. Đây là một nội dung không thực sự khó lắm nhưng liên quan trực tiếp tình hình trên địa bàn. Do đó chọn phương pháp thảo luận là phù hợp, khi giao việc nên phân nhóm theo tổ dân cư hoặc xóm với công việc: Tìm hiểu trong tổ( hoặc xóm) có bao nhiêu hộ gia đình ? Bao nhiêu hộ sinh 1 đến 2 con, bao nhiêu hộ sinh từ 3 con trở lên? Để làm việc này với giáo viên tới văn phòng thống kê lưu trữ của xã lấy số liệu liên quan “ Số dân của xã trong thời gian gần đây, tỉ lệ kết hôn dưới độ tuổi (Tảo hôn), tỉ lệ sinh con vượt kế hoạch ...”
 	Tùy phần thảo luận nên đưa nội dung vào cuối phần 1 “ Dân số ” để mang tính chất liên hệ và chuyển ý sang mục sau.
 7: Phương pháp thực địa.
 Đây là phương pháp đặc thù của môn Địa Lí, được thực hiện qua các hoạt động hoạt động ngoài lớp theo nhóm của học sinh. Giúp học sinh thấy được mối quan hệ hòa hợp hơn với môi trường đang sống. Yêu cầu của phương pháp này là học sinh phải quan sát, ghi chép, tập hợp thông tin, kết luận. Đồng thời khơi dậy ở mỗi học sinh ý thức về môi trường và khuyến khích tham gia hoạt động BVMT ở nhà trường.
 	Ví dụ: Với bài 9 “ Hoạt động sản xuất nông nghiệp ơ đới nóng”- Địa lí 7 Giáo viên tổ chức thực địa để hiểu môi trường theo quá trình sau.
- Giáo viên chọn nơi thực địa ( Gần trường ).
 	- Phân công: 
Nhóm 1 thu thập các mẫu vật ( Đất, đá, nước )
 	Nhóm 2 thu thập các loài mẫu vật (Cây,côn trùng). 
 	Nhóm 3 ghi chép.
 	Thảo luận giữa các nhóm đi đến kết luận: Môi trường sống có nhiều đối tượng: Vô cơ, hữu cơ.Các đối tượng đang bị đe dọa dưới tác động của con người.
 	Trên đây là tập hợp 7 phương pháp GDMT mà bản thân tôi nhận thấy có khả năng thực hiện được trong chương trình địa lí lớp 7 và đem lại kết quả cao ở địa bàn đang công tác. Ngoài ra còn có một số phương pháp khác mà các bạn đọc có thể tham khảo thêm: Phương pháp gạn lọc giá trị, phương pháp động não, phương pháp giao việc về nhà, phương pháp nghiên cứu tình huống, phương pháp đóng vai.
II/ Hoạt động ngoại khóa: 
Đây là một hình thức mang tính chất tự nguyện của học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên, để mở rộng bổ sung kiến thức GDMT đã được dạy trong nội khóa. bao gồm các hoạt động sau:
1/ Báo cáo ngoại khóa về môi trường.
2/ Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu môi trường địa phương đất nước
3/ Tổ chức nghiên cứu môi trường địa phương.
4/ Tổ chức tham quan môi trường.
5/ Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường ở nhà trường và địa phương.
6/Tổ chức các câu lạc bộ môi trường. 
IV. HIỆU QUẢ SÁNG KIẾN :
GDMT qua môn Địa Lí là một điều kiện hết sức thuận lợi so với phân môn khác. Với môn Địa Lí lớp 7 tôi cũng đã áp dụng từ năm 2017 – 2018. Với năm học 2018 – 2019 tôi cũng đang tiếp tục triển khai .
Để thấy được hiệu quả của bài tôi đã dùng hai bài kiểm tra với hình thức khác nhau để đánh giá chất lượng học sinh của 3 lớp 7 trong khóa học 2017 – 2018, và 1 lớp 7C trong năm học 2018 – 2019.
 	- Bài kiểm tra thứ nhất: Bằng câu hỏi trắc nghiệm sau tiết học
 	- Bài kiểm tra thứ hai: Kiểm tra viết 15 phút kết quả thu được như sau:
* Trong năm học 2017 – 2018:
Khối 7
Lớp
Sĩ số
Chưa nhận biết
Có nhận biết
Có ý thức
Biết vận dụng
7A
31
13
8
5
5
7B
30
12
9
5
4
7C
32
14
7
6
5
Tổng
93
39
24
16
14
Tỉ lệ
100
41,9
25,8
17,2
15,1
* Trong năm học 2018 – 2019:
Khối 7
Lớp
Sĩ số
Chưa nhận biết
Có nhận biết
Có ý thức
Biết vận dụng
7C
32
8
12
5
7
Tổng
32
8
12
5
7
Tỉ lệ
100%
25
37,5
15,6
21,9
* Chênh lệch tỉ lệ giữa 2 năm học là:
Năm học
Chưa nhận biết
Có nhận biết
Có ý thức
Biết vận dụng
2017 – 2018.
41,9
25,8
17,2
15,1
2018 – 2019.
25
37,5
15,6
21,9
Tỉ lệ chênh lệch.
59,67
68,8
90,7
68,9
Như vậy: Kết quả của bài kiểm tra đã cho thấy được sự tiến bộ của học sinh trong vấn đề nhận thức về môi trường. cụ thể là khóa học 2017 – 2018 so với khóa học 2018 – 2019 tỉ lệ học sinh chưa nhận biết giảm 59,67 % còn tỉ lệ có ý thức tăng 90,7 % đặc biệt là số học sinh đã biết vận dụng, tăng lên 68,9 %. Những kết quả trên tuy chỉ mới bước đầu trong quá trình thực hiện việc gắn kết GDMT trong việc dạy và học tập địa lí cũng như trong quá trình theo dõi thực nghiệm của bản thân tại địa phương nhưng với tôi nhận thấy đây là một kết quả đáng mừng.
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN:
Sau một thời gian tìm hiểu và vận dụng vào dạy học bài tổng kết kinh nghiệm đã rút ra một số phương pháp để DGMT ở địa bàn nông thôn, nhất là khu vực trung du như sau:
1/ Hoạt động nội khóa:
- Phương pháp giảng thuật.
- Phương pháp giảng giải.
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp sử dụng phương tiện trực quan.
- Phương pháp thí nghiệm.
- Phương pháp thảo luận.
- Phương pháp thực địa.
2/ Hoạt động ngoại khóa:
- Báo cáo ngoại khóa về môi trường: 
 	Để mở rộng hiểu biết về môi trường địa phương, đất nước, toàn cầu.
- Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu môi trường địa phương đất nước:
 	Để phát triển khả năng tiềm ẩn trong học sinh ( Vẽ, viết, sáng tác...).
- Tổ chức nghiên cứu môi trường địa phương:
- Rèn luyện kỹ năng nghiên cứu ( Tìm tòi, thu thập, phân tích ....) 
- Tổ chức tham quan môi trường: 
Mở rộng tầm nhìn về môi trường tự nhiên, xã hội.Giáo dục lòng yêu thiên nhiên.
- Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường ở nhà trường và địa phương :
Giúp học sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tế.
- Tổ chức các câu lạc bộ môi trường.
 	II. KIẾN NGHỊ:
1.Với giáo viên:
- Lập bảng liệt kê nội dung GDMT có thể khai thác từ sách giáo khoa thuộc các khối khác nhau.
- Chọn nội dung: Tích hợp toàn phần ( Kiến thức GDMT trùng lặp hoàn toàn với kiến thức địa lí), tích hợp bộ phận (Kiến thức GDMT là một bộ phận của kiến thức Địa lí)
- Thiết kế bài học phải có tính mềm dẻo, thích ứng với nhiều tình huống khác nhau, nhưng đều đạt được mục tiêu GDMT.
- Thường xuyên tìm tòi học hỏi những tài liệu, phương pháp GDMT có hiệu quả, đa dạng hơn trong các hoạt động.
2.Với nhà trường:
- Tạo điều kiện cho công tác GDMT về: Thời gian, không gian ( Địa điểm tổ chức ), cơ sở vật chất, chỉ đạo ... Để tổ chức dạy học.
- Lập kế hoạch thường xuyên giám sát kiểm tra quá trình vận dụng và GDMT của các giáo viên với các phân môn có tham gia, để đảm bảo tính đồng bộ trong quá trình GDMT.
3.Với chính quyền địa phương:
- Giới thiệu và cung cấp kịp thời số liệu ( Kinh tế, xã hội ) có liên quan khi cần thiết. Tạo điều kiện về cơ cở vật chất, địa điểm tổ chức hoạt động ngoại khóa.
- Truyền đạt những kinh nghiệm trong sản xuất của nhân dân.
 Người viết sáng kiến
 Âu Đình Hữu
XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH
TRƯỜNG PTDTBT-THCS SỦNG TRÁI
..

File đính kèm:

  • docSKKN GIAO DUC MOI TRUONG THONG QUA MON dIA LI LOP 7_12464759.doc
Sáng Kiến Liên Quan