Đề tài Một số iện pháp giúp học sinh lớp 5 học tập có hiệu quả Tập làm văn miêu tả

I. PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài:

Trong chương trình Tiểu học, môn tiếng Việt là một trong hai môn chính có

vai trò rất quan trọng. Dạy tiếng Việt ở tiểu học tạo cho học sinh kỹ năng sử dụng

tiếng Việt thành thạo để sử dụng trong học tập, giao tiếp; cung cấp cho HS những

hiểu biết phong phú về tiếng Việt, mở mang kiến thức về tự nhiên, xã hội, văn hóa

của dân tộc Việt Nam và nước ngoài. Môn Tiếng Việt 5 gồm có năm phân môn, mỗi

phân môn có một vai trò và nhiệm vụ khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ,

tích hợp với nhau. Phân môn Tập Làm Văn có nhiệm vụ rèn cho HS các kỹ năng

quan sát, tìm ý, lập dàn ý. Dùng từ, đặt câu, viết đoạn, liên kết đoạn, diễn đạt lưu

loát, mạch lạc. Rèn kĩ năng viết văn giàu hình ảnh, cảm xúc. Bồi dưỡng tình cảm

yêu mến, gắn bó, biết trân trọng những gì xung quanh các em. Đây là phân môn

mang tính chất tổng hợp, sáng tạo, thực hành, thể hiện đậm dấu ấn cá nhân. TLV,

viết văn, hành văn là cái đích cuối cùng cao nhất của việc học môn Tiếng Việt. Đối

với HS Tiểu học, biết nói đúng, viết đúng, diễn đạt mạch lạc đã khó. Để nói, viết

hay, có cảm xúc, giàu hình ảnh lại khó hơn nhiều. Cái khó ấy chính là cái đích của

phân môn TLV đòi hỏi người học cần diễn đạt tới. Từ đó, các em được mở rộng vốn

sống, rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc, thẩm mỹ, hình thành nhân

cách. Chương trình TLV ở tiểu học chủ yếu là dạy văn miêu tả. Ngay từ lớp 2 -3,

các em đã được làm quen với loại văn này khi được tập quan sát và trả lời câu hỏi.

Lên lớp 4, 5 các em phải hiểu thế nào là văn miêu tả, biết quan sát, tìm ý, lập dàn ý,

viết đoạn văn và liên kết đoạn văn thành một bài văn với các loại văn như: miêu tả

đồ vật, cây cối, con vật, tả người, tả cảnh - những đối tượng gần gũi và thân thiết

của các em. Để hoàn thành bài văn miêu tả, đối với HS lớp 5 thường rất khó khăn.

Do đặc điểm tâm lý chưa ổn định, hơn nữa các em còn ham chơi, khả năng tập trung

chú ý quan sát chưa tinh tế, năng lực sử dụng ngôn ngữ chưa phát triển tốt Dẫn

đến khi viết văn, HS còn thiếu hiểu biết về đối tượng miêu tả hoặc không biết cách

diễn đạt điều muốn tả. Đối với giáo viên đây cũng là loại bài khó dạy. GV còn thiếu

linh hoạt trong vận dụng phương pháp và chưa sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt

động học tập của HS. Vì vậy, không phải dạy loại văn nào cũng đạt hiệu quả như

mong muốn và không phải GV nào cũng dạy tốt văn miêu tả. Việc tìm ra các

phương pháp để hướng dẫn HS quan sát, tìm ý, lập dàn ý, tưởng tượng của GV

cũng còn nhiều hạn chế. Xuất phát từ những lý do trên, tôi mạnh dạn lựa chọn đề

tài “Một số biện pháp rèn kỹ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 5 Trường Tiểu

học Trần Quốc Toản.Với những lý do trên, tôi chọn và viết đề tài: “ Một số iện

pháp giúp học sinh lớp 5 học tập có hiệu quả Tập làm văn miêu tả”.

pdf18 trang | Chia sẻ: myhoa95 | Ngày: 29/10/2018 | Lượt xem: 355 | Lượt tải: 2Download
Bạn đang xem tài liệu "Đề tài Một số iện pháp giúp học sinh lớp 5 học tập có hiệu quả Tập làm văn miêu tả", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ụ 
thể, chính xác, tránh việc viết tràn lan, chung chung,... 
4.G c s ắ đặc đ ể của ừ k ể b ả: 
Giáo viên giúp học sinh biết dùng lời văn phù hợp với yêu cầu về nội dung và 
thể loại cho trước, khi luyện tập. Giáo viên cũng cần lưu ý nhắc nhở các em nắm 
vững các đặc điểm của mỗi thể loại, mỗi dạng bài và xác định đối tượng miêu tả. 
Trong mỗi bài văn phải thể hiện cái mới cái hay, cái riêng và cảm xúc của mình. 
KIỂU ÀI Ả CẢ : Cần xác định các yêu cầu sau: 
a. Xác định không gian, thời gian nhất định: 
Sau khi xác định thời gian, không gian nhất định học sinh cần biết lựa chọn 
trình tự quan sát. Việc quan sát có thể tiến hành ở những vị trí khác nhau nhưng vẫn 
phải có một vị trí chủ yếu làm cho cảnh được quan sát bộc lộ ra những điều cơ bản 
nhất của nó. Khi đã xác định được vị trí quan sát rồi, ta nên có cái nhìn bao quát 
toàn cảnh đồng thời phải biết phân chia cảnh ra thành từng mảng, từng phần để 
quan sát. 
 c c ả ả 
 T c ả 
10 
10 
b. Xác định trình tự miêu tả: 
Khi tả phải xác định một trình tự miêu tả phù hợp với cảnh được tả. Tả từ trên 
xuống hay từ dưới lên, từ phải sang trái hay từ ngoài vào trong... là tuỳ thuộc đặc 
điểm của cảnh. 
c. Chọn nét tiêu biểu: 
Chỉ nên chọn nét tiêu biểu nhất của cảnh để tả, tập trung làm nổi bật đặc điểm 
đó lên, có thể tả xen hoạt động của người, của vật, ... trong cảnh để góp phần làm 
cho cảnh sinh động hơn, đẹp hơn. 
d. Tả cảnh gắn với cảm xúc riêng bằng nhiều giác quan: 
Tả cảnh luôn luôn gắn với cảm xúc của người viết. Cảnh vật mang theo trong 
nó cuộc sống riêng với những đặc điểm riêng. Con người cảm nhận cảnh như thế 
nào sẽ đem đến cho cảnh những tình cảm như thế. Nhà thơ Lê Anh Xuân, trong 
niềm vui của ngày Tổ quốc hoàn toàn thống nhất, đất nước thoát khỏi ách ngoại 
xâm, bằng tâm trạng hạnh phúc nhất, ông đã thốt lên: 
“Bỗng thấy nội tôi trẻ lại 
Như thời con gái tuổi đôi mươi.” 
Đây chính là phần hồn của cảnh. Cảnh không có hồn sẽ trơ trọi, thiếu sức sống. 
e. Chọn từ ngữ thích hợp khi tả cảnh: 
Khi làm văn miêu tả cần biết lựa chọn từ ngữ gợi tả, dùng hình ảnh so sánh 
hoặc nhân hoá để làm nổi bật đặc điểm cảnh đang tả giúp người đọc như đang đứng 
trước cảnh đó và cảm nhận được những tình cảm của người viết. 
Ví dụ : 
Sau đây xin trích một số câu trong bài văn tả cảnh: “Chiều tối” của Phạm Đức 
(Sách Tiếng Việt 5- tập 1- trang 22): “Nắng bắt đầu rút lên những chòm cây cao, rồi 
nhạt dần và như hoà lẫn với ánh sáng trắng nhợt cuối cùng.” 
Ta thấy câu văn miêu tả sự chuyển hoá của ánh sáng từ “nhạt dần” rồi “hoà 
lẫn” với “ánh sáng trắng nhợt”. 
Tác giả cũng đã dùng mắt để quan sát sự biến đổi của ánh sáng và bóng tối, đã 
dùng tai để nghe tiếng dế và dùng mũi để cảm nhận hương vườn và cũng đã sử dụng 
nghệ thuật nhân hoá làm cho câu văn sinh động một cách rất tinh tế, khi viết: 
“Bóng tối như bức màn mỏng, như thứ bụi xốp, mờ đen phủ dần lên mọi vật.” 
“Một vài tiếng dế gáy sớm, vẻ thăm dò, chờ đợi.” 
“ Trong im ắng, hương vườn thơm thoảng bắt đầu rón rén bước ra và tung tăng 
trong ngọn gió nhẹ, nhảy trên cỏ, trườn theo những thân cành.” 
KIỂU ÀI Ả GƯỜI: 
Khi miêu tả người, yếu tố quan sát lại càng quan trọng. Nhìn chung, mọi người 
đều có những đặc điểm giống nhau nhưng lại hoàn toàn khác nhau ở những đặc 
điểm riêng, chỉ người đó mới có. Nhiệm vụ của giáo viên khi hướng dẫn học sinh 
“miêu tả người” là giúp cho các em thấy rằng phải miêu tả ngắn gọn mà chân thực, 
sinh động về hình ảnh và hoạt động của người mình tả. 
Ví dụ: 
 c c ả ả 
 T c ả 
11 
11 
Trong bài văn “Người thợ rèn” (SGK lớp 5- tập 1- trang 123). Tác giả miêu tả 
người thợ rèn đang làm việc: 
“Anh bắt lấy thỏi thép hồng như bắt lấy một con cá sống. Dưới những nhát búa 
hăm hở của anh, con cá lửa ấy vùng vẫy, quằn quại, giãy lên đành đạch.” 
Ta thấy tác giả quan sát rất kĩ và miêu tả sinh động làm nổi bật hình ảnh người 
thợ rèn như một người chinh phục dũng mãnh và thấy r quá trình biến thỏi thép 
thành một lưỡi rựa. 
Vì thế, để làm được bài văn tả người thành công, giáo viên cần giúp học sinh 
xác định các yêu cầu sau: 
a. Chú ý tả ngoại hình - hoạt động: 
Khi tả người cần chú ý đến tuổi tác- mỗi lứa tuổi khác nhau sẽ có sự phát triển 
về cơ thể, về tâm lý riêng biệt khác nhau và có những hành động thể hiện theo giới 
tính, thói quen sinh hoạt, hoàn cảnh sống. Khi miêu tả cần tập trung vào việc làm 
sao nêu được cái chung và cái riêng của con người được miêu tả. 
b. Quan sát trò chuyện trực tiếp: 
Khi tả người, điều cần nhất là quan sát trực tiếp hoặc trò chuyện, trao đổi ý 
kiến với người đó. Quan sát khuôn mặt, dáng đi, nghe giọng nói, xem xét cách nói, 
cử chỉ, thao tác lúc làm việcđể rút ra nét nổi bật... (chọn và quan sát người định tả 
trong thời gian chuẩn bị bài mới ở nhà). Ta cũng cần dùng cách quan sát gián tiếp là 
thông qua trí nhớ hoặc nhận xét của một người khác về người định tả để bổ sung 
những thông tin cần thiết. 
 c. Tả kết hợp ngoại hình, tính nết, hoạt động: 
Khi miêu tả có thể tách riêng từng mặt,từng bộ phận để tả nhưng để nội dung 
bài văn miêu tả đạt được sự gắn bó, súc tích ta nên kết hợp tả ngoại hình, tính nết 
đan xen với tả hoạt động. 
d. Tả những nét tiêu biểu bằng tình cảm chân thật của mình: 
Khi tả người, điều quan trọng là cần tả chân thật những nét tiêu biểu về người 
đó, không cần phải tô điểm người mình tả bằng những hình ảnh hoa mĩ, vẽ nên một 
hình ảnh toàn diện. Làm như vậy bài văn sẽ trở nên khuôn sáo, thiếu sự chân thật 
làm người đọc cảm thấy khó chịu. Thầy cô giáo cần lưu ý học sinh rằng, trong mỗi 
con người ai cũng có chỗ khiếm khuyết nhưng nét đẹp thì bao giờ cũng nhiều hơn ( 
đẹp về hình thể, đẹp về tính cách, đẹp về tâm hồn.) Nếu học sinh phát hiện, cảm 
nhận được và biết tả hết các đặc điểm đó thì sẽ làm cho bài văn miêu tả của các em 
sinh động, hồn nhiên đầy cảm xúc và người đọc dễ chấp nhận hơn. 
Ví dụ: 
Trong bài văn tả “Cô Chấm” (sách Tiếng Việt 5- tập 1- trang 156) nhà văn Đào 
Vũ đã viết: “Chấm không phải là cô con gái đẹp, nhưng là người mà ai đã gặp thì 
không thể lẫn lộn với bất cứ một người nào khác.” 
“Chấm cứ như một cây xương rồng. Cây xương rồng chặt ngang chặt dọc, chỉ 
cần cắm nó xuống đất, đất cằn cũng được, nó sẽ sống và sẽ lớn lên. Chấm thì cần 
cơm và lao động để sống .” 
 c c ả ả 
 T c ả 
12 
12 
“Chấm mộc mạc như hòn đất. Hòn đất ấy bầu bạn với nắng với mưa để cho cây 
lúa mọc lên hết vụ này qua vụ khác, hết năm này qua năm khác...” 
 L ừ c c s 
Giáo viên cần có biện pháp làm giàu vốn từ ngữ cho học sinh qua từng bài đọc, 
từng bài tập ở các môn Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ & câu cùng chủ điểm. 
Tạo cho học sinh thói quen quan sát, đánh giá, nhìn nhận một sự vật, một cảnh 
vật hay một con người nào đó và thể hiện những điều đã quan sát và đánh giá được 
bằng vốn từ ngữ, ngôn ngữ của mình, kịp thời điều chỉnh những lỗi về dùng từ, viết 
câu, làm văn... 
 a. Bài tập làm giàu vốn từ cho học sinh thông qua các phân môn tiếng Việt: 
 Môn Tập đọc giúp các em hiểu được nghĩa gốc, nghĩa chuyển, hiểu được nội 
dung của các đoạn văn, khổ thơ có ý nghĩa miêu tả (cảnh vật, con người,...). Mỗi 
tiết dạy Tập đọc nên thêm một vài câu hỏi về thể loại, bố cục và trình tự miêu tả 
của tác giả để học sinh thấm dần về Tập làm văn miêu tả. 
 Môn Luyện từ &câu là môn có thể giúp học sinh làm giàu vốn từ nhiều nhất khi 
dạy các tiết Mở rộng vốn từ. Trong các tiết này có các bài tập mở rộng vốn từ rất cụ 
thể, thiết thực như tìm từ, ghép từ, phát hiện từ miêu tả, dùng từ đặt câu, sắp xếp 
các từ thành nhóm miêu tả như nhóm từ ngữ miêu tả ngoại hình, nhóm từ ngữ miêu 
tả đặc điểm cảnh vật, nhóm miêu tả hoạt động,... 
Đặc biệt ở chính phân môn Tập làm văn, giáo viên có thể giúp học sinh làm giàu 
vốn từ theo các đề tài nhỏ: 
Ví dụ 1: 
Tìm từ láy gợi tả âm thanh trên dòng sông (bì bọp, ì ọp, ì ầm, xôn xao, ào ào...) 
Ví dụ 2: 
Tìm những hình ảnh so sánh để so sánh với dòng sông: dòng sông như dải lụa, 
dòng sông như con trăn khổng lồ, dòng sông như người mẹ hiền ôm ấp đồng lúa 
chín vàng... 
b. Sử dụng từ ngữ trong miêu tả: 
Sau khi học sinh đã có một vốn từ nhất định, giáo viên giúp học sinh các cách sử 
dụng vốn từ trong miêu tả như: sử dụng từ láy, sử dụng tính từ tuyệt đối (đỏ mọng, 
đặc sệt, trong suốt...), sử dụng các biện pháp nghệ thuật (so sánh, nhân hoá, ẩn 
dụ...). 
Ví dụ 1: Cho các từ “ríu rít, líu lo, liếp chiếp, rộn ràng, tấp nập, là là, từ từ...” 
Hãy chọn từ thích hợp điền vào chỗ trống trong đoạn văn sau: “Tiếng chim... báo 
hiệu một ngày mới bắt đầu. Ông mặt trời... nhô lên sau luỹ tre xanh. Khói bếp nhà 
ai... bay trong gió. Đàn gà con... gọi nhau,...theo chân mẹ. Đường làng đã... người 
qua lại.” 
Ví dụ 2: Hãy chọn từ ngữ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống để được 
các câu văn có hình ảnh so sánh phù hợp nhất (tiếng chuông, chùm sao, thuỷ tinh, 
dải lụa, giọng bà tiên). 
- Hoa xoan nở từng chùm trông giống như... ( những chùm sao ) 
 c c ả ả 
 T c ả 
13 
13 
- Nắng cứ như...xối xuống mặt đất. ( thuỷ tinh ) 
- Giọng bà trầm ấm ngân nga như... ( tiếng chuông ) 
Ở ví dụ 1 và ví dụ 2, cho số từ nhiều hơn số chỗ trống cần điền, buộc HS phải 
suy nghĩ kĩ hơn khi chọn từ. 
6 L d ý 
Để làm một bài văn đúng trình tự, đầy đủ nội dung, hay về ý tứ lời văn, đẹp về 
hình ảnh sống động, dùng từ viết câu chính xác, r ràng... đòi hỏi học sinh phải có 
vốn kiến thức về từ ngữ, kiến thức về câu, về cách xây dựng văn bản. 
Khi học sinh đã được cung cấp những từ ngữ miêu tả rồi, giáo viên cần tổ 
chức, hướng dẫn cho các em lập dàn ý, lựa chọn sắp xếp ý để miêu tả. Mục đích xây 
dựng dàn ý là giúp học sinh xác định được đúng yêu cầu của từng phần: mở bài, 
thân bài, kết bài, xác định thể loại và đối tượng miêu tả để tránh tình trạng học sinh 
viết tràn lan, lạc đề và miêu tả không trọng tâm. 
Hoạt động tiếp theo sau khi lập dàn ý là hoàn thiện dàn ý. Đây là bước quan 
trọng, cần thiết để có được một bài tập làm văn viết tốt nhất. Khi làm bài vào vở, 
học sinh cần chú ý cách trình bày, chữ viết, lỗi chính tả. Đó là những yếu tố giúp 
học sinh thành công trong quá trình học Tập làm văn. Cuối cùng, khi đã làm bài 
xong học sinh cần kiểm tra lại bài viết của mình trước khi nộp bài. 
7 G c ấ b ả b ế 
Chương trình Tập làm văn lớp 5 có 3 tiết trả bài tả cảnh, 3 tiết trả bài tả người, 
4 tiết trả bài kể chuyện, đồ vật, cây cối, con vật. Ta nhận thấy rằng có chấm bài chu 
đáo thì mới có tiết trả bài đạt hiệu quả. 
a. Chấm bài: 
Khi chấm bài Tập làm văn cho học sinh, mỗi bài tôi đọc qua một lượt để có cái 
nhìn chung về bố cục, về diễn đạt của học sinh, xem thử học sinh đã làm bài đúng 
thể loại, nội dung và trọng tâm bài viết chưa. Tôi ghi ra sổ chấm bài những chỗ hay, 
chưa hay hoặc sai những lỗi gì...của từng HS. 
Khi chấm điểm xong cho cả lớp, tôi đánh giá chung kết quả bài làm của học 
sinh và rút ra những tiến bộ cần phát huy, và những thiếu sót cần sửa chữa bổ sung 
để chuẩn bị cho tiết trả bài sắp tới.. 
b. Trả bài viết: 
Nội dung, phương pháp lên lớp một tiết trả bài Tập làm văn viết lớp 5, theo 
sách giáo khoa xác định có 3 hoạt động chính: 
1. Nghe thầy (cô) nhận xét chung về kết quả bài làm của lớp. 
2. Chữa bài. 
3. Đọc tham khảo các bài văn hay được thầy (cô) giáo khen để học tập và rút 
kinh nghiệm (TV5- T1- T53). 
Để tiết trả bài viết đạt hiệu quả, giáo viên cần lấy thông tin từ bài viết của học 
sinh (đã chấm và ghi ở sổ chấm bài) và thực hiện các hoạt động trả bài một cách 
bài bản, có linh hoạt tuỳ theo tình hình chất lượng Tập làm văn của lớp. 
 c c ả ả 
 T c ả 
14 
14 
+ ạ độ 1: Nhận xét chung về bài làm của lớp gồm các bước sau: 
Bước 1: Đánh giá việc nắm vững các yêu cầu của đề bài (ghi đề, học sinh đọc 
đề bài, xác định 3 yêu cầu: thể loại, nội dung và trọng tâm). Đánh giá tình hình 
làm bài của lớp về mặt nhận thức đề (số bài đã đạt 3 yêu cầu của đề, số bài chưa 
đạt hoặc đạt chưa đủ 3 yêu cầu. Biểu dương cá nhân, cả lớp...). 
Bước 2: Đánh giá về nội dung bài viết (cho học sinh nêu dàn ý chung của kiểu 
bài tả cảnh,( tả người ) Đọc một vài đoạn văn đã chọn sẵn cho học sinh nghe và 
nhận xét, cuối cùng giáo viên đánh giá chung về nội dung đoạn văn đó. 
 + ạ độ 2: Chữa bài: 
 Nội dung và cách thức thực hiện sửa chữa lỗi diễn đạt: 
 Việc sửa chữa lỗi diễn đạt dựa trên cơ sở bài làm của cả lớp mà trong quá 
trình chấm bài, GV đã ghi ra các câu có vấn đề về ngữ pháp, các lỗi chính tả  
Đến lúc này GV tổ chức, hướng dẫn cho HS nhận xét, sửa chữa. Định hướng như 
vậy sẽ giúp cho việc sửa chữa lỗi sát hợp và kịp thời uốn nắn kĩ năng diễn đạt cho 
lớp. Tuy nhiên, sửa như vậy sẽ dẫn đến tình trạng nhàm chán trong HS vì tiết trả 
bài nào cũng sửa chữa những lỗi đó. 
Riêng tôi, ngay từ đầu năm học đã lên kế hoạch sửa lỗi diễn đạt cho lớp, mỗi 
tiết trả bài viết tập trung sửa chữa cho một hoặc hai loại lỗi nào đó một cách bền 
vững, tức là cần có trọng tâm sửa lỗi cho từng tiết. 
+ Hoạt động 2 này tiến hành theo 3 bước : 
Bước 1: Tham gia chữa lỗi chung cho cả lớp: 
Ví dụ: 
Tiết trả bài viết số 1(tả cảnh, tuần 5) : Trọng tâm sửa lỗi là luyện từ & câu và 
thực trạng viết câu. 
Bước 2: Học sinh đọc lại bài làm của mình, chú ý những chỗ mực đỏ ghi lời 
khen, chê của cô giáo. ( Ví dụ : câu hay, đoạn hay, hoặc lỗi dùng từ, lỗi viết câu, 
lỗi chính tả) 
Bước 3: Học sinh tự chữa bài vào vở tập làm văn. 
Hoạt động 3: 
Đọc tham khảo một số đoạn, hoặc vài bài văn hay của một số em cho cả lớp 
nghe để học tập và rút kinh nghiệm. 
e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu: 
- Kết quả khảo nghiệm: 
Qua những biện pháp và giải pháp tôi đã áp dụng được nêu ở trên, đến cuối 
học kì I năm học 2014 – 2015 các em đã nắm được một số vốn kiến thức nhất định 
để học có hiệu quả phân môn Tập làm văn. Cả lớp đều ham thích môn học, không 
sợ sệt khi đến tiết Tập làm văn như đầu năm học nữa. Bài làm của các em đa số đã 
có tiến bộ, học sinh nắm được cách sắp xếp ý, bố cục chặt chẽ, dùng từ chính xác, 
viết câu văn trôi chảy, mạch lạc, bước đầu có hình ảnh, cảm xúc, hiểu và vận dụng 
khá tốt các biện pháp tu từ trong các bài tập làm văn của mình. Các em cảm thụ 
được bài văn, đọc bài trôi chảy, hiểu đúng nội dung bài, nhất là rất tự tin khi đến tiết 
học Tập làm văn. 
 c c ả ả 
 T c ả 
15 
15 
Khảo sát đầu năm: 
TSHS Điểm trung bình trở lên Điểm dưới trung bình 
12 7 5 
Chất lượng cuối kì I: 
TSHS Điểm trung bình trở lên Điểm dưới trung bình 
12 11 1 
- Giá trị khoa học 
Diễn biến chất lượng phân môn Tập làm văn sau khi áp dụng đề tài này thật 
đáng phấn khởi, đây là kết quả của một quá trình phấn đấu của cô giáo và học sinh 
lớp 5C trường Tiểu học Trần Quốc Toản. Chất lượng phân môn Tập làm văn đi lên 
r rệt đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng môn tiếng Việt của lớp. 
Tạo sự say mê hứng thú cho học sinh khi học và từ đó học sinh ngày càng yêu thích 
môn học hơn. 
4. Kết quả: 
- Kết quả thu được qua quá trình thực hiện đề tài 
Qua các biện pháp nêu trên đã giúp các em học sinh yếu của lớp có sự tiến bộ 
một cách r rệt, đưa chất lượng học tập của các em nâng dần. Cụ thể đầu năm học 
các em trong lớp như: Đoán, Tây, Bình, Mến, xác định chưa đúng yêu cầu đề 
bài, bài làm chưa r bố cục, nội dung lan man rời rạc, dùng từ, câu thiếu chính 
xác,... Đến cuối học kì I các em đã cơ bản thực hiện nắm được yêu cầu đề bài, xác 
định đúng dạng văn, làm bài tương đối r bố cục, nội dung tuy sơ sài nhưng không 
còn lam man, rời rạc. Câu văn tương đối có hình ảnh, 
- Giá trị khoa học mang lại khi thực hiện đề tài 
Đề tài có thể áp dụng tốt vào các tiết dạy môn Tập làm văn miêu tả cho học 
sinh lớp 4-5 ở cấp Tiểu học. 
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 
1. Kết luận 
Sau một học kì áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này, thành công tuy nhỏ nhưng 
tôi ý thức được rằng để giúp học sinh lớp 5 làm được bài văn miêu tả sinh động, 
đúng kiểu bài, đòi hỏi giáo viên phải dành nhiều thời gian, công sức nghiên cứu 
soạn giảng, có lòng nhiệt tình với học sinh và tâm huyết với nghề nghiệp. Thầy cô 
giáo đã miệt mài, tận tuỵ thì việc mong muốn có nhiều học sinh giỏi văn sẽ không 
còn là khó. Sau thời gian đầu tư nghiên cứu và áp dụng những biện pháp dạy học 
 c c ả ả 
 T c ả 
16 
16 
như trên, học sinh lớp tôi đã có chuyển biến đi lên về chất lượng phân môn Tập làm 
văn nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung. 
Có thể nói, bước đầu thành công trong việc dạy Tập làm văn miêu tả cho học 
sinh lớp 5 là nguồn động viên rất lớn cho tôi. Tôi sẽ đem kinh nghiệm này tiếp tục 
áp dụng để giảng dạy phân môn Tập làm văn ở học kì II và các năm sau, với mong 
muốn lớn nhất của tôi là giúp học sinh nâng cao chất lượng môn tiếng Việt cấp Tiểu 
học. 
Tuy nhiên những biện pháp mà tôi đã áp dụng trên, tuỳ đối tượng học sinh 
cũng cần có sự vận dụng một cách khéo léo, sáng tạo của giáo viên. Tôi nghĩ rằng 
nội dung đề tài này không có nhiều điểm mới, đó chỉ là nhiệm vụ hằng ngày của 
giáo viên mà thôi. Nhưng đồng thời tôi cũng tin rằng nếu lâu nay ta làm chưa tốt thì 
bây giờ ta dốc hết tâm huyết vào, tận tuỵ với học sinh, soạn giảng nghiêm túc thì 
chắc chắn sẽ gặt hái được thành công. 
Rất mong nhận được sự đồng tình của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp lớp 4- 5. 
2. Kiến nghị 
Để dạy học có hiệu quả Tập làm văn ở Tiểu học ( nhất là văn miêu tả ở lớp 4, 5 
) tôi xin có mấy đề nghị sau : 
1. Đối với BGH nhà trường : Cần cho áp dụng đối với các lớp khối 4,5 trong 
trường, nhằm rút kinh nghiệm chung đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng 
dạy phân môn Tập làm văn nói chung và kiểu bài văn miêu tả nói riêng. 
2. Đối với đồng nghiệp dạy lớp 4, 5 : Thầy, cô giáo cần phải đầu tư hơn nữa về 
phương pháp và biện pháp cho mỗi giờ học phân môn Tập làm văn ( từng thể loại, 
từng kiểu bài cụ thể) để từng bước giúp các em nắm vững kiến thức, chủ động nói 
lên những suy nghĩ hồn nhiên của mình; nói đúng, nói hay, làm giàu thêm vốn từ 
ngữ và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt . 
Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân tôi trong việc rèn học sinh lớp 5 
học tập có hiệu quả Tập làm văn miêu tả. Chắc rằng trong quá trình thực hiện vẫn 
còn nhiều khiếm khuyết mà bản thân chưa chỉ ra được. Rất mong được học tập thêm 
ở các bạn đồng nghiệp, Hội đồng ban giám khảo.Tôi xin chân thành cảm ơn! 
 Bình Hòa, tháng 2 n m 2015. 
 Người viết 
 Dương Thị Nhuỵ 
 c c ả ả 
 T c ả 
17 
17 
 Nhận xét của hội đồng sáng kiến cấp trường 
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
----------------------------------------------------------------------------------------------------- 
 Chủ tịch hội đồng 
 (Kí , đ dấ ) 
 Nhận xét của hội đồng sáng kiến cấp huyện 
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
---------------------------------------------------------------------------------------------------- 
 Chủ tịch hội đồng 
 (Kí , đ dấ ) 
 c c ả ả 
 T c ả 
18 
18 

File đính kèm:

  • pdfsang_kien_kinh_nghiem_bien_phap_giup_hoc_sinh_lop_5_hoc_tap_co_hieu_qua_tap_lam_van_mieu_ta_2123.pdf
Sáng Kiến Liên Quan