Đề tài Một số biện pháp rèn kĩ năng học văn cho học viên ở Trung tâm Giáo dục Thường xuyên – Hướng nghiệp Tỉnh

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong quá trình dạy - học, thầy và trò Trung tâm GDTX đều xác định môn Ngữ

Văn có tầm quan trọng đặc biệt trong chương trình học và có ảnh hưởng lớn trong việc

giáo dục và bồi dưỡng tâm hồn con người. Học văn là nhu cầu và là yêu cầu không thể

thiếu trong đời sống xã hội, học văn là rèn người, rèn kĩ năng cho các môn học khác

Dạy văn là một công việc khó khăn phức tạp đòi hỏi người giáo viên tận tâm và

sáng tạo. Có như thế mới giúp cho học sinh hiểu đúng nghĩa của môn học và từng bước

nâng cao được chất lượng giáo dục, các em chẳng những hiểu được môn văn, hiểu được

chính mình mà còn am hiểu đời sống xã hội.

Hơn như thế: dạy văn sẽ giúp mỗi ngày bồi dưỡng tâm hồn các em. Học văn học

viên sẽ biết trân trọng cuộc sống đang có, biết yêu quý mọi người và biết tu dưỡng để có

thể tiếp bước ông cha giữ gìn quê hương đất nước. Các em biết sống chân thành, trung

thực nhưng chan chứa nghĩa tình.

Tuy nhiên trong thực tế học viên ở các Trung tâm giáo dục thường xuyên nói

chung đại đa số các em là người thiểu số nên trình độ dân trí còn thấp, khả năng giáo tiếp

bằng tiếng phổ thông còn hạn chế, bản chất rụt rè nên thiếu tự tin khi trình bày một vấn

đề. Đại đa số các em vừa học vừa làm nên chưa chủ động trong việc học tập và tiếp thu

kiến thức.

Hơn nữa đặc trưng của học viên trung tâm là: Đối tượng học đa dạng không đồng

đều về trình độ nhận thức, tuổi tác theo học cũng khác nhau. Không đồng nhất như học

sinh Phổ thông.

Trong khi đó biên soạn chương trình Bộ giáo dục và đào tạo yêu cầu học sinh Phổ

thông và học viên Trung tâm đều học theo một chương trình và đáp ứng được kiến thức

theo chuẩn BGD&ĐT quy định. Kết thúc 3 năm học mỗi học sinh đều phải đảm bảo kì

thi tốt nghiệp đáp ứng đúng yêu cầu của bộ ban hành. Đó là một thách thức đối với thầy

cô và là thử thách lớn mà học viên Trung tâm phải vượt qua

pdf29 trang | Chia sẻ: myhoa95 | Ngày: 27/10/2018 | Lượt xem: 483 | Lượt tải: 1Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề tài Một số biện pháp rèn kĩ năng học văn cho học viên ở Trung tâm Giáo dục Thường xuyên – Hướng nghiệp Tỉnh", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ang tiếng của các em và 
ngược lại làm cho tiếng việt giàu thêm. Đặc biệt là các lớp từ tượng thanh, 
tượng hình, từ láy thường xuất hiện trong các tác phẩm. Hiện nay ở các 
trường cũng như các trung tâm các thầy đã chú ý đến việc học tiếng dân tộc. 
2. Nội dung, biện pháp rèn kĩ năng làm văn nghị luận 
Xuất phát từ thực trạng, học viên Trung tâm rất khó khăn trong quá trình làm văn 
nghị luận. Nên tôi mạnh dạn đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng học văn cho học viên 
Trung tâm giáo dục thường xuyên như sau: 
Thứ nhất trước tiên giáo viên nên cung cấp cho học viên những kiến thức cơ bản 
về những vấn đề của xã hội và các tác phẩm văn học trong chương trình. Đây là điều kiện 
Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu 18 
vô cùng quan trọng cần phải có để giúp các em có những vốn kiến thức cơ bản vận dụng 
vào giải quyết được tất cả các vấn đề trong bài văn nghị luận. 
Ví dụ: 
Các vấn đề xã hội đang quan tâm hiện nay là gì? Thực trạng các vấn đề đó như thế 
nào? Cách giải quyết vấn đề ấy ra sao? 
Hay khi học các tác phẩm văn học trong chương trình giáo viên cần cung cấp cho 
các em hiểu biết về tác giả, hoàn cảnh sáng tác, những giá trị về nội dung và nghệ thuật, 
những nhận xét, đánh giá về tác phẩm. 
Thứ hai sau khi cung cấp vốn kiến thức cơ bản, giáo viên đặc biệt chú trọng vào 
việc cung cấp cho các em những kiến thức về kiểu bài nghị luân cụ thể. 
Khái niệm văn nghị luận, vai trò của văn nghị luận trong đời sống. 
- Đặc điểm của bài văn nghị luận cần chú ý vào hệ thống luận điểm và luận cứ 
cùng với những yêu cầu của nó đó là: Các luận điểm, luận cứ phải đảm bảo tính khái 
quát, tính tiêu biểu, độ chân thật, đúng đắn, toàn diện. Luận điểm, luận cứ phải gắn bó 
chặt chẽ thành hệ thống, các luận điểm được xây dựng giống như bộ khung cho các đoạn 
văn nghị luận xoay quanh hệ thống luận điểm, luận cứ tạo ra tính thống nhất của văn bản. 
Các luận điểm chở thành cốt lõi của bài văn và là linh hồn của bài văn. 
- Khi rèn luyện kĩ năng xây dựng luận điểm, luận cứ; giáo viên cần rèn 
kĩ cho các em cân nhắc đến từng vai trò, vị trí của mỗi luận điểm, đặt chúng 
trong mối quan hệ tương quan và sắp xếp theo hệ thống, vị trí quan hệ; cách 
sắp xếp các luận điểm có quan hệ liên quan đến nghệ thuật, bố cục và nghệ 
thuật lập luận của văn bản. 
+ Luận điểm xuất phát: Luận điểm này thường được dùng làm luận điểm ở phần 
đặt vấn đề nhằm giới thiệu vấn đề đề cập đến trong bài. 
+ Các luận điểm tiếp theo được mở rộng trình bày ở phần thân bài nhằm giải quyết 
vấn đề, phát triển ý, triển khai các lập luận mà vấn đề cần được giải quyết . 
+ Luận điểm chính: Được sử dụng ở phần kết thúc vấn đề nhằm khẳng định vấn đề. 
Theo các lập luận trên ta có mô hình cấu tạo các luận điểm sau : 
Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu 19 
 Thứ ba là một bài văn nghị luận có các quy trình sau: 
 Nêu tạo lập một quy trình làm văn nghị luận cho học viên nhằm khắc phục cách 
viết lan man, thiếu định hướng nên giáo viên cần rèn cho học viên có những kĩ năng sau: 
 Để làm bài văn nghị luận học viên cần có bốn bước theo quy trình như tạo lập các 
văn bản đó là: Tìm hiểu đề, tìm ý, viết nháp và sửa chữa bài. Sau đó tạo lập hoàn chỉnh 
bài văn, bước cuối cùng kiểm tra bài viết. 
 Như phần đặt vấn đề đã đề cập trong bài văn nghị luận, hệ thống luận điểm có vai 
trò lớn, nó như là linh hồn của bài văn. Đây là một vấn đề quan trọng các em phải xác 
định để tạo lập được trong quá trình tìm hiểu đề, tìm hiểu ý và xây dựng dàn bài. Để xây 
dựng được luận điểm sát yêu cầu các em cần bám sát vào nội dung chính để tạo lập luận 
điểm cho đúng yêu cầu đề bài. 
 Ví dụ: 
 Nghị luận về một tác phẩm: Suy nghĩ của em về một nhân vật ông lão lái đò trong 
"Người lái đò Sông Đà" của Nguyễn Tuân. 
 Khi làm bài văn này học viên cần xác định những luận điểm chính sau: 
 - Luận điểm 1: Ông lão lái đò sống và chèo đò trong hoàn cảnh hết sức 
đặc biệt. 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Luận điểm xuất phát 
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 
Luận điểm 
mở rộng 1 
Luận điểm 
mở rộng 1 
Luận điểm 
mở rộng 1 
Luận điểm 
mở rộng 1 
KẾT THÚC VẤN ĐỀ 
Luận điểm chính 
Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu 20 
 - Luận điểm 2: Trong hoàn cảnh đó đã làm nổi bật nên những nét tính cách phẩm 
chất đáng quý của người lao động. 
 - Luận điểm 3: Ông lái đò đại diện tiêu biểu cho những người lao động mới. 
 Như vậy ta có thể thấy, để tìm kiếm, xác định rõ hệ thống luận điểm để giải quyết 
một vấn đề, ngay từ thao tác đầu học viên cần xác định được trục cơ bản của bài văn nghị 
luận? Xây dựng hệ thống luận điểm theo phát triển của thời gian hay không gian, theo 
các mối quan hệ xã hội hay các lĩnh vực khác nhau. Trả lời được các câu hỏi này là giáo 
viên đã rèn cho học viên có hướng để hoàn thành luận điểm. Sau đó rèn cho các em biết 
cách sử dụng các luận cứ kết hợp tốt giữa các lí lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ những 
luận điểm trên. 
 Khi làm bài văn nghị luận các em tạo lập được các văn bản trên có sự phát hiện ra 
hệ thống luận điểm, luận cứ điều đó chưa đáp ứng được bài văn hoàn hảo, mà muốn bài 
văn hoàn chỉnh các em cần được rèn cách trình bày các luận điểm cho hợp 
lí. 
 Giáo viên cần cung cấp cho học viên quy trình cơ bản khi trình bày luận điểm theo 
phương pháp sau: 
 TỒNG - PHÂN - HỢP (3 Bước) 
 Bước 1: Dẫn dắt nêu nội dung của luận điểm (Thường được thể hiện ở khâu chủ 
đề). 
 Bước 2: Dùng các (luận cứ, lí lẽ, dẫn chứng) để phân tích làm sáng tỏ 
luận điểm. 
 Bước 3: Khái quát, nâng cao luận điểm. 
 Một điều đáng chú ý đối với tất cả các em học viên là khả năng nhận xét đánh giá 
khái quát chung vấn đề: Trước khi trình bày các luận điểm bao giờ các em cũng phải nêu 
ý kiến nhận xét đánh giá chung hoặc giải thích ngắn ngọn vần đề cần nghị luận. 
 Ví dụ: 
 Bài văn yêu cầu nghị luận vấn đề: Giá trị nhân đạo của truyện kiều 
Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu 21 
Giáo viên phải hướng dẫn các em giải thích thế nào là giá trị nhân đạo và giá trị nhân đạo 
trong truyện kiều được thể hiện như thế nào? Sau đó mới bước vào nghị luận cụ thể. 
 Bố cục của bài văn nghị luận có vai trò quan trọng trong việc thể hiện khả năng 
nghị luận của người viết. Vì vậy giáo viên cần cung cấp cho học viên yêu cầu bố cục một 
bài văn nghị luận thông thường đặc biệt là sắp xếp các luận điểm, luận cứ theo một hệ 
thống logic chặt chẽ. 
 Tóm lại: Giáo viên muốn các em làm tốt văn nghị luận thì cần rèn cho các em tính 
chịu khó học tập, tích lũy tri thức để các em có được một kiến thức văn học phong phú, 
vững chắc. Bài văn nghị luận hay vừa phải chinh phục khối óc, vừa chinh phục được trái 
tim người đọc và phải thấu tình đạt lí, vừa có nội dung tư tưởng cao đẹp lại vừa có tác 
dụng truyền cảm. Do vậy, người thầy cần phải có năng lực, phẩm chất và đặc biệt là tình 
yêu môn văn, tình yêu học trò. 
 Thứ tư là bất cứ người giáo viên nào khi đứng trên bục giảng đặc biệt là đứng 
trước tương lai của các em, tôi trăn trở suy nghĩ dạy để cho các em làm được gì, dạy như 
thế nào cho phù hợp. 
 Chính vì day dứt đó, nên tôi đã cố gắng ở rất nhiều khâu, suy nghĩ tìm tòi đổi mới 
tìm ra giải pháp tốt nhất. Tuy nhiên, một trong các giải pháp quan trọng trong môn ngữ 
văn là giáo viên phải luôn đổi mới cách kiểm tra đánh giá, để phát hiện những học viên 
khá giỏi kịp thời bồi dưỡng. Đặc biệt tìm ra những nguyên nhân học yếu, học kém lập 
được có kế hoạch và bồi dưỡng đúng đối tượng theo chất lượng môn học. 
Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu 22 
CHƯƠNG IV. HIỆU QUẢ "MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG HỌC VĂN 
CHO HỌC VIÊN TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN – HƯỚNG 
NGHIỆP TỈNH’’ 
 Với việc rèn kĩ năng văn học cho học viên, giáo viên đã rèn luyện về năng lực quan 
sát tưởng tượng để cảm nhận hiện thực khách quan. Từ "Cảm tính" học viên sẽ được rèn 
luyện về năng lực phán đoán, suy luận "Tư duy lý tính" để nhận thức hiện thực đúng đắn 
hơn. 
 Nhận thức của học viên thay đổi: trở nên sâu sắc, mạnh mẽ học viên không còn 
hiểu biết nông cạn mà nhận biết được hiện tượng bên ngoài và bản chất bên trong của sự 
vật hiện tượng. 
 Việc rèn kĩ năng văn học cho học viên có tác dụng hoàn thiện, việc rèn luyện tư 
duy hoàn thiện quá trình nhận thức cho học viên. Bên cạnh đó việc rèn kĩ năng học văn sẽ 
giúp học viên có lập trường, tư tưởng góp phần hoàn thành bản lĩnh, nhân cách con người 
mới xã hội chủ nghĩa cho học viên. Học viên trở thành người có năng lực - một công dân 
tương lai tốt. 
 Học văn tốt, học viên đã được trang bị những kiến thức về đời sống văn học. Trình 
độ tư duy phát triển góp phần rèn luyện tư tưởng, lập trường, tình cảm, hình thành bản 
lĩnh nhân cách cho học viên. 
 - Qua quá trình vận dụng đề tài hai năm tôi đã thu được kết quả của 
học viên sau khi tác động đề tài: 
Kết quả học kì I 
Lớp 12 A (32 HV) 
Kết quả học kì I 
Lớp 12 B(32 HV) 
STT 
Điểm số 
Tổng số % Tổng số % 
Ghi chú 
1 Khá 6 18.7 3 9.4 
2 Trung bình 19 59.4 14 43.8 
3 Yếu 7 21.9 15 46.8 
4 Kém 0 0 0 0 
Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu 23 
Quá trình vừa học tập, nghiên cứu và ứng dụng thực hiện các biện pháp rèn học 
văn cho học viên ở Trung tâm Giáo dục Thường xuyên – Hướng nghiệp Tỉnh đề tài đã 
thu được nhiều kết quả: 
 1. Giờ học văn không còn là giờ học khó và khô khan. Các em hào hứng, phấn 
khởi chờ đón giờ văn. 
 2. Việc vận dụng văn nói của học viên linh hoạt, sinh động, cuốn hút người nghe 
hơn. 
 3. Bài viết đã chuẩn chính tả, diễn đạt lưu loát nội dung sinh động. 
 4. Tỉ lệ học viên yếu kém giảm, tỉ lệ trung bình tăng và đặc biệt đã có nhiều học 
viên thực sự học khá môn Ngữ văn. 
5. Số liệu so sánh đầu năm học và kết quả sau khi tác động của đề tài 
KẾT QUẢ 
Lớp 12A Lớp 12B 
 Kết quả 
Học lực 
% Đầu năm % Cuối học kì I % Đầu năm % Cuối học kì I 
Kém 20 0 59.4 3.1 
Yếu 23 21.9 28.2 46.7 
Trung bình 57 59.4 12.4 43.5 
Khá 0 18.7 0 6.7 
- Có thể nói rằng rằng: một số biện pháp rèn kĩ năng cho học viên đã thu được kết quả 
ban đầu, giúp giáo viên điều chỉnh phương pháp dạy phù hợp với đối tượng, góp phần 
nâng cao hiệu quả dạy và học môn Ngữ văn.Theo kế hoạch đề ra của đề tài cuối năm học 
tỉ lệ đỗ tốt nghiệp của 12A : 90%,12B: 85% với kếtquả đó so với kết thúc học kì I lớp 
12A tăng 11,9% lớp 12B tăng 32,4%.Như vậy điều đó cho thấy chất lượng môn 
Văn của tôi đã vượt lên được chỉ tiêu đề ra. 
Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu 24 
PHẦN KẾT LUẬN 
 I. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM 
 Để nâng cao được chất lượng dạy học môn Ngữ văn trong quá trình giảng dạy giáo 
viên cần chú ý: 
 Trước hết về phương pháp: mỗi thầy cô dạy văn cần nắm chắc chương trình ngữ 
văn ở khối PTTH và cần có sự liên kết với chương trình trước và sau để hệ thống kiến 
thức trang bị cho các em có sự đồng tâm liên thông và giúp người học hiểu được đích của 
việc học văn. 
 - Cần nắm chắc phương pháp dạy văn: 
 + Phương pháp đọc sáng tạo 
 Là phát triển cảm thụ, hình thành những thể nghiệm nghệ thuật cho học sinh bằng 
phương tiện nghệ thuật. Đòi hỏi người đọc phải chú ý đến: từ, câu, nhịp điệu, kích thích 
trí tưởng tượng gây cảm xúc. 
 + Phương pháp gợi tìm: Thầy cô phải xây dựng được hệ thống câu hỏi có logic 
chặt chẽ, đồng thời xây dựng được hệ thống bài tập về văn bản tác phẩm vừa học đặt 
thành vấn để tổ chức tranh luận. 
 + Phương pháp nghiên cứu: Giúp học sinh tự thiết lập năng lực để giải quyết vấn 
đề. Có thể tổ chức các buổi tọa đàm, giao lưu văn học. Có thể ở các buổi xemina ... nhằm 
tổng kết một vấn đề văn học mà học sinh được chuẩn bị trước nội dung 
 Phương pháp này giúp học viên nắm được những kĩ năng gắn liền với một vấn đề 
cụ thể trong văn học 
 + Phương pháp tái tạo: thường áp dụng trong làm văn. 
 Học viên lập được dàn bài, xác định được các luận điểm. Việc đưa ra các phương 
pháp dạy văn trên tôi muốn các thầy cô nhận diện cụ thể còn khi thực hiện ta nên phối 
hợp giữa các phương pháp sao cho linh hoat, hài hòa, nhuần nhuyễn nếu làm tốt được 
điều này kết quả học tập của học viên sẽ cao hơn. 
 Thứ hai, thiết kế các mục tiêu học tập cho học viên từ dễ đến khó phù hợp với cấp 
độ tư duy của học viên 
 - Từ biết -> hiểu -> áp dụng -> phân tích -> đánh giá -> sáng tạo. 
Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu 25 
 Coi trọng hoạt động tương tác giữa học viên với học viên, giữa giáo viên với học 
viên 
 - Giáo viên dạy văn là dạy người nên cần quan tâm chú ý đến từng đối tượng học 
viên, động viên khích lệ kịp thời để học viên tự tin, phấn khởi trong học tập và mọi hoạt 
động trong cuộc sống tạo điều kiện để các em phát huy được sở trường năng lực của bản 
thân. 
 Thứ ba, kết quả học tập của các em là sự phản hồi hoạt động giữa thầy và trò. Do 
đó giáo viên luôn đổi mới cách kiểm tra đánh giá nhằm phát hiện ra những hạt giống đỏ 
có năng lực học môn văn để thường xuyên bồi dưỡng. Đồng thời qua kiểm tra đánh giá 
giáo viên cũng nắm bắt được những mặt yếu, thiếu của học viên để kịp thời đưa ra được 
những biện pháp giúp đỡ phù hợp cho các em. 
 Thứ tư, tăng cường ứng dụng thông tin vào bài giảng nhằm thu hút học viên và 
phong phú kiến thức. 
 II. Ý NGHĨA CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 
 Môn văn có tầm quan trọng đặc biệt trong chương trình học và có tác dụng to lớn 
trong việc giáo dục nhân cách học viên nhất là bồi dưỡng tâm hồn con người. Học văn là 
một nhu cầu cấp thiết trong đời sống xã hội bởi học văn là để hiểu mình, hiểu người, hiểu 
đời sống xã hội. 
 Một trong những nhiệm vụ cơ bản là giáo viên đề ra những phương pháp cụ thể, 
thích hợp cho từng học trò nhằm từng bước nâng cao chất lượng: 
 1. Vấn đề nâng cao chất lượng trong môn ngữ văn là một điều cần thiết. Giúp học 
viên nâng cao sự hiểu biết về mọi vấn đề trong xã hội. Phát huy được vai trò tích cực chủ 
động tiếp nhận của học viên. Trên cơ sở đó đề tài chỉ ra những phương pháp và biện pháp 
cụ thể khi hướng dẫn học sinh học môn văn giúp các em định hướng để việc dạy học văn 
có hiệu quả hơn. 
 2. Các bước thể hiện phương hướng và biện pháp đề xuất trên tôi rất hy vọng đề tài 
giúp các em chuyển biến về nhận thức từ tác phẩm đến phân tích, bình giá và nhận thức 
cuộc sống, các em sẽ có khả năng phát huy một cách tối đa năng lực tiếp nhận sáng tạo 
chủ động và tích cực hóa hoạt động của các em khi nghe giảng. Giúp các em tiếp thu giá 
Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu 26 
trị thẩm mỹ trong tác phẩm trở thành tự giác các em hứng thú do đó giờ học được nâng 
lên rõ ràng. 
 3. Qua thực tế giảng dạy ở các khối lớp 10, 11, 12 với các tác phẩm: 
 Nhàn – Nguyễn Bỉnh khiêm ( Lớp 10) 
 Vội vàng – Xuân Diệu ( Lớp 11) 
 Tràng Giang – Huy Cận ( Lớp 11) 
 Sóng – Xuân Qỳnh ( Lớp 12) 
 Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân ( Lớp 12) 
 Hiệu quả tiếp nhận văn chương của các học viên được nâng cao rõ rệt giờ dạy thoát 
khỏi hạn chế đọc – chép. Nó thật sự đồng điệu giữa thầy trò. Tạo được không khí sôi nổi 
sự đồng cảm, thấu hiểu giữa người viết văn – người giảng văn và người học văn. Học 
viên hiểu được nhà văn thông qua tác phẩm do vậy kiến thức đưa đến cho các em một 
cách tự nhiên. Tránh cách dạy thụ động, máy móc. Như thế học viên tự tin hơn trong quá 
trình lĩnh hội các em tự vận động tự nhận thức và phát triển theo cảm xúc của mình. 
 Trên đây là một số biện pháp rèn kĩ năng học văn cho học viên ở Trung tâm Giáo 
dục Thường xuyên Hướng nghiệp Tỉnh. trong quá trình nghiên cứu, thực tế áp dụng trong 
giảng dạy tôi đã thu được những kết quả đáng kể. tuy nhiên năng lực còn nhiều hạn chế 
do đó đôi lúc tôi cảm nhận được ở đề tài này mới chỉ dừng ở tường thuật một số hoạt 
động chủ yếu của giáo viên. Khi là người thầy dạy văn: có tần tảo, có đào sâu suy nghĩ 
tìm giải pháp, có tận tụy, luôn yêu thương học trò. Luôn trả lời cho câu hỏi: Dạy văn để 
làm gì? Dạy cho ai? Dạy như thế nào? Các em được gì sau mỗi giờ giảng văn? Sau mỗi 
ngày đến trường? Phải chăng đó là sự băn khoan trăn trở. Chưa phải là một phương pháp 
mới. Mong các thầy cô cùng đọc để góp ý kiến cho việc dạy văn được nâng cao 
hơn.Mong các em học viên trao đổi thiết thực để sau này tôi có thêm vốn kiến thức để bổ 
xung vào giờ dạy. 
 III. KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TRIỂN KHAI. 
 Sáng kiến đã được ứng dụng ở 3 khối lớp 10, 11, 12 ở Trung tâm GDTX – HN 
Tỉnh. Quá trình ứng dụng giáo viên đã thu được nhiều kết quả khả quan – học viên học 
tập tích cực, kết quả học tập nâng lên rõ rệt, sáng kiến có thể áp dụng đối với tất cả giáo 
Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu 27 
viên giảng dạy môn Ngữ văn ở Trung tâm GDTX – HN Tỉnh nói riêng và các giáo viên 
dạy văn ở các Trung tâm Giáo dục Thường xuyên. Các giáo viên văn trong toàn tỉnh có 
thể tham khảo và vận dụng. 
 IV NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT. 
 1 . Đối với Sở giáo dục và đào tạo 
 Đề nghị đầu tư trang thiết bị, đồ dùng học tập phục vụ công tác giảng dạy. Trang bị 
thêm các đầu sách tham khảo, phương pháp dạy học cho học viên miền núi( nhất là tranh 
ảnh trực quan) phục vụ môn văn để học viên xóa dần khoảng cách giữa miền núi và miền 
xuôi. 
 Tiếp tục tổ chức các buổi hội thảo về phương pháp dạy văn cho giáo viên bổ túc 
trong toàn tỉnh cùng trao đổi và học tập. 
 2 . Đối với Trung tâm GDTX - HN tỉnh 
 Đề nghị quan tâm đầu tư một số phòng đọc và các đầu sách tham khảo cho học 
viên. 
 Bổ sung các đầu sách tham khảo để giáo viên văn có thể mượn đọc, vận dụng trong 
giảng dạy. 
 Phòng chuyên môn tăng cường tổ chức các chuyên đề, các buổi hội thảo bàn về 
văn học và tìm ra nhiều giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học. 
 Tăng cường sinh hoạt chuyên môn tổ nhóm, tìm phương án giúp học viên yếu kém 
nhận thức, xác định rõ mục tiêu học tập để từng bước nâng cao chất lượng . 
Tiếp tục vận động giáo viên học tiếng dân tộc. 
 Trân trọng cảm ơn! 
Lai Châu, ngày 20 tháng 4 năm 2013 
PHÊ DUYỆT CỦA HĐKH TRUNG TÂM Người viết 
 NGUYỄN THỊ HÀ 
Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu 28 
THƯ MỤC THAM KHẢO 
 1. Nguyễn Viết Chữ - Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo thể loại. 
NXB ĐHSP - 2003 
 2. Nguyễn Thanh Hùng - Đọc và tiếp nhận tác phẩm văn chương NXBGD – 2002 
 3. Phạm Trọng Luận: phương pháp dạy học văn – NXBGD – 2001 
 4. Văn học 10, 11, 12- NXBGD – 2002 
 5. Sách giáo viên văn học 10, 11, 12 – NXBGD 2002. 
 6. Lê Văn Hồng – Lê Ngọc Lan – Nguyễn Văn Trà – Giáo trình tâm lý học lứa tuổi 
và tâm lý học sư phạm- NXB ĐHQG – 2001 
 7. Trần Đình Dở: Từ điển thuật ngữ văn học- NXB ĐHQGHN- 2001 
 8. Nhiều tác giả, Văn học và sự tiếp nhận, Viện thông tin KHXH, Hà Nội, 1991 
 9. Nguyễn Thanh Hùng, Đọc và tiếp nhận văn chương, nhà XBGD Hà Nội, 2002. 
 10. Phan Trọng Luận, Phương pháp phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường, 
NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1998. 
 11. Pham Trọng Luận, Thiết kế bài giảng tác phẩm văn chương trong nhà trường 
phổ thông T1- NXBGD- 2001 
 12. Vũ Dương Quỹ: Những nhân vật, những cuộc đời - T1 – NXBGD 1995. 
13. Đỗ Ngọc Thống. Đổi mới việc dạy học môn Ngữ văn – NXBGD HN 2002 
14. I. F. KhatlamỐp, Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào – NXBGD 
HN 1978 
15. Các bài viết về đổi mới về đổi mới dạy học trên các Tạp chí: Thế giới trong ta ( 
Hội Tâm lí - Giáo dục học Việt Nam), Văn học và tuổi trẻ ( Nhà xuất bản Giáo 
dục), Dạy và học ngày nay ( Hội khuyến học Việt Nam),... 
16. Các băng hình dạy học mẫu môn Ngữ văn của các đợt tập huấn thay sách lớp 
10, lớp 11 – THPT, 2002 – 2003.
Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu 29 
MỤC LỤC 
NỘI DUNG TRANG 
DANH MỤC VIẾT TẮT – DANH MỤC BIỂU ĐỒ 1 
PHẦN MỞ ĐẦU 
2 
PHẦN NỘI DUNG 
6 
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN "RÈN KĨ NĂNG HỌC VĂN CHO 
HỌC VIÊN TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN – 
HƯỚNG NGHIỆP TỈNH" 
6 
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG HỌC VIÊN HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở 
TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN – HƯỚNG 
NGHIỆP TỈNH: 
9 
CHƯƠNG III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH DẠY VĂN Ở 
TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN – HƯỚNG NGHIỆP 
TỈNH 
13 
CHƯƠNG IV: HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 
22 
PHẦN KẾT LUẬN 
24 
THƯ MỤC THAM KHẢO 
28 
MỤC LỤC 29 

File đính kèm:

  • pdfmot_so_bien_phap_ren_ki_nang_hoc_van_cho_hoc_vien_o_trung_tam_giao_duc_thuong_xuyen_huong_nghiep_tin.pdf
Sáng Kiến Liên Quan