Đề tài Một số biện pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở Tiểu học

 1.1. Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm

Ngày nay xu hướng hội nhập quốc tế trong nhiều lĩnh vực kể cả lĩnh vực giáo dục đã đưa tiếng Anh lên một vị trí hết sức quan trọng. Tiếng Anh là công cụ giao tiếp là chìa khóa dẫn đến kho tàng nhân loại. Mặt khác việc ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin đã làm cho việc học tiếng Anh trở thành cấp bách và không thể thiếu. Vì vậy việc học tiếng Anh của học sinh các cấp nói chung, cấp Tiểu học nói riêng được học sinh, phụ huynh học sinh, giáo viên, đặc biệt là Phòng GD&ĐT huyện Quảng Ninh hết sức quan tâm. Tiếng Anh đã trở thành môn học chính yếu trong chương trình học của học sinh.

Việc học và sử dụng tiếng Anh đòi hỏi cả một quá trình luyện tập cần cù sáng tạo của cả người học lẫn người dạy. Đặc biệt trong tình hình cải cách giáo dục như hiện nay, dạy tiếng Anh theo hướng giao tiếp được nhiều người ủng hộ. Theo phương pháp này học sinh có nhiều cơ hội để giao tiếp với bạn bè, với giáo viên để rèn luyện ngôn ngữ, chủ động tích cực tham gia vào các tình huống thực tế: Học đi đôi với hành.

Bởi vậy hệ thống các môn học trong nhà trường hiện nay là hướng tới những vấn đề cốt lõi thiết thực đó. Bộ môn Tiếng Anh tuy đưa vào phổ biến muộn hơn so với các môn học khác ở nhà trường nói chung và Trường tiểu học Hải Ninh nói riêng, nhưng nó là chìa khóa mở ra kho tàng tri thức nhân loại. Nó là người hướng đạo đưa ta tới với Thế giới bắt tay với bạn bè năm châu, tiếp thu và lĩnh hội những tinh hoa nhân loại.

 Tuy nhiªn viÖc häc bé m«n TiÕng Anh ë c¸c Tr­êng tiểu học nãi chung vµ Trường Tiểu học Hải Ninh nãi riªng cßn gÆp rÊt nhiÒu khã kh¨n ®Æc biÖt lµ trong viÖc häc vµ sö dông tõ vùng vµ c¸c mẫu câu TiÕng Anh. V× vËy d¹y cho häc sinh c¸ch häc, luyÖn tËp vµ sö dông mẫu câu TiÕng Anh lµ ®Ó cung cÊp cho häc sinh mét kho tµng tõ ®iÓn sèng vÒ ng«n tõ vµ cÊu tróc c©u, lµ mét yªu cÇu rÊt cÇn thiÕt trong viÖc häc TiÕng Anh ®Æc biÖt đối víi nh÷ng häc sinh míi lµm quen víi m«n häc TiÕng Anh.

Hiện nay Tiếng Anh được coi như là một công cụ để giao tiếp đòi hỏi chúng ta phải có một vốn từ, cho nên việc học từ vựng là một tất yếu không thể không kể đến trong việc học tiếng Anh. Nhưng đa phần, học sinh chưa hiểu hết tầm quan trọng của từ vựng nên rất lười học hoặc chỉ học qua loa rồi không sử dụng được nó , trong đó học sinh tiểu học cũng không ngoại lệ, với lượng kiến thức mới mà nó khác xa với tiếng mẹ đẻ như thế thì học sinh rất sợ học. Do vậy người giáo viên phải làm gì để từ vựng không còn là “ nổi khó khăn “của học sinh , suy nghĩ ấy cứ làm tôi trăn trở mãi, với vài năm đứng lớp gặp không biết bao nhiêu lần học sinh không thuộc từ vựng , viết sai , hiểu sai câu và không dịch được. Lµm thÕ nµo ®Ó c¸c em cã ®­îc mét vèn cÊu tróc cÇn thiÕt vµ cã thÓ sö dông ®­îc cÊu tróc cña m×nh mét c¸ch cã hiÖu qu¶ nhÊt.

 Năm học 2014 -2015 tôi đảm nhận dạy học bộ môn tiếng Anh từ khối 4, khối 5. Từ thực tế của đơn vị tôi chọn sáng kiến kinh nghiệm “ Một số biện pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở Tiểu học”

 

doc16 trang | Chia sẻ: myhoa95 | Ngày: 29/10/2018 | Lượt xem: 1465 | Lượt tải: 17Download
Bạn đang xem tài liệu "Đề tài Một số biện pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở Tiểu học", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
húng ta phải có vốn từ phong phú. Khi nói đến ngữ liệu môi là chủ yếu nói đến ngữ pháp và từ vựng, từ vựng là ngữ pháp luôn có mối quan hệ khăng khích với nhau, luôn được dạy phối hợp để làm rõ nghĩa của nhau. Tuy nhiên dạy và giới thiệu từ vựng là vấn đề cụ thể. Thông thường trong một bài học luôn xuất hiện những từ mới, xong không phải từ mới nào cũng cần đưa vào để dạy. Để chọn từ cần dạy, giáo viên cần xem xét những vấn đề:
Từ chủ động (active vocabulary)
Từ bị động (passive vocabulary)
Chúng ta đều biết cách dạy hai loại từ này khác nhau. Từ chủ động có liên quan đến bốn kỹ năng (nghe – nói – đọc – viết). Đối với loại từ này giáo viên cần đầu tư thời gian để giới thiệu và cho học sinh tập nhiều hơn.
Với từ bị động giáo viên chỉ cần dừng ở mức nhận biết, không cần đầu tư thời gian vào các hoạt động ứng dụng. Giáo viên cần biết lựa chọn và quyết định xem sẽ dạy từ nào như một từ chủ động và từ nào như một từ bị động.
Khi dạy từ mới cần làm rõ ba yếu tố cơ bản của ngôn ngữ là:
+ Form.
+ Meaning.
+ Use.
Đối với từ chủ động ta chỉ cho học sinh biết chữ viết và định nghĩa như từ điển thì chưa đủ, để cho học sinh biết cách dùng chúng trong giao tiếp, giáo viên cần cho học sinh biết cách phát âm, không chỉ từ riêng lẻ, mà còn biết phát âm đúng những từ đó trong chuỗi lời nói, đặc biệt là biết nghĩa của từ.
Số lượng từ cần dạy trong bài tuỳ thuộc vào nội dung bài và trình độ của học sinh. Không bao giờ dạy tất cả các từ mới, vì sẽ không có đủ thời gian thực hiện các hoạt động khác. Tuy nhiên, trong một tiết học chỉ nên dạy tối đa là 6 từ.
Trong khi lựa chọn từ để dạy, bạn nên xem xét đến hai điều kiện sau: 
+ Từ đó có cần thiết cho việc hiểu văn bản không ?
+ Từ đó có khó so với trình độ học sinh không ?
	Nếu từ đó cần thiết cho việc hiểu văn bản và phù hợp với trình độ của học sinh, thì nó thuộc nhóm từ tích cực, do đó bạn phải dạy cho học sinh.
Nếu từ đó cần thiết cho việc hiểu văn bản nhưng khó so với trình độ của học sinh, thì nó không thuộc nhóm từ tích cực, do đó bạn nên giải thích rồi cho học sinh hiểu nghĩa từ đó ngay.
Nếu từ đó không cần thiết cho việc hiểu văn bản và cũng không khó lắm thì bạn nên yêu cầu học sinh đoán.
Nhưng để thực hiện giảng dạy tốt một tiết từ vựng, không chỉ cần có sự đầu tư vào bài giảng, vào các bước lên lớp của giáo viên, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào sự hợp tác của học sinh. Do vậy tôi đã đưa ra một số yêu cầu đối với học sinh như: Chuẩn bị bài ở nhà, trong giờ học phải nghiêm túc.
2. Các thủ thuật gợi mở giới thiệu từ mới:
 Giáo viên có thể dùng một số thủ thuật gợi mở giới thiệu từ mới như:
a. Visual (nhìn): 
Cho học sinh nhìn tranh ảnh, vẽ phác hoạ cho các em nhìn, giúp giáo viên ngữ nghĩa hoá từ một cách nhanh chống.
e.g. a car	e.g. a flower
b. Mine (điệu bộ): 
Thể hiện qua nét mặt, điệu bộ.
e.g. bored
Teacher looks at watch, makes bored face, yawns
T. asks, “How do l feel”
e.g. (to) jump
T. jumps
T. asks, “What am l doing?”
c. Realia (vật thật): 
Dùng những dụng cụ trực quan thực tế có được.
e.g. limes (count), rice (uncount.)
T. brings real limes and rice into the class.
T. asks, “What’s this?”
e.g. open (adj.), closed (adj.)
T. opens and closes the door
T. says, “Tell me about the door: it’s..........what?”
d. Situation / explanation ( tình huống/ giải thích):
e.g. honest
T. explains, “I don’t tell lies. I don’t cheat in the exams. I tell the truth.”
T. asks, “What am I? Tell me the word in Vietnamese.”
e. Example ( ví dụ):
e.g. fumiture
T. lists examples of fumiture: “tables, chairs, beds – these are all ... fumiture ... Give me another example of... fumiture...”
e.g. (to) complain
T. saya, “This room is too noisy and too small. It’s no good (etc.)”
T. asks, “What am I doing?”
f. Synonyon \ antonyon (đồng nghĩa \ trái nghĩa): 
Giáo viên dùng những từ đã học rồi để giảng từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa.
e.g. intelligent
T. asks, “What’s another eord for clever?”
e.g. stuppid
T. asks, “What’s the opposite of clever?”
g. Translation (dịch): 
Giáo viên dùng những từ tương đương trong tiếng Việt để giảng nghĩa từ trong tiếng Anh. Giáo viên chỉ sử dụng thủ thuật này khi không còn cách nào khác, thủ thuật này thường được dùng để dạy từ trừu tượng, hoặc để giải quyết một số lượng từ nhiều nhưng thời gian không cho phép, Giáo viên gợi ý học sinh tự dịch từ đó.
e.g. (to) forget
 T. asks, “How do you say `quên` in English?”
h. T’s eliciting questions ( câu hỏi gợi ý): 
Để giới thiệu từ mới, giáo viên dạy cho học sinh theo bốn kỹ năng nghe – nói – đọc – viết.
+ Nghe: Giáo viên đọc mẫu, học sinh lắng nghe.
+ Nói: Giáo viên đọc từ, học sinh đọc lại.
+ Đọc: Giáo viên viết từ lên bảng, học sinh đọc từ bằng mắt, bằng miệng.
+ Viết: Học sinh viết từ vào tập.
Trong khi dạy từ mới phải ghi nhớ các điểm sau: Nên giới thiệu từ trong mẫu câu, ở những tình huống giao tiếp khác nhau, giáo viên kết hợp việc làm việc đó, bằng cách thiết lập được sự quan hệ giữa từ cũ và từ mới, từ vựng phải được củng cố liên tục.
Giáo viên thường xuyên kiểm tra từ vựng vào đầu giờ bằng cách cho các em viết từ vào bảng con và giơ lên, với cách này giáo viên có thể quan sát được toàn bộ học sinh ở lớp, bắt buộc các em phải học bài và nên nhớ cho học sinh vận dụng từ vào trong mẫu câu, với những tình huống thực tế giúp các em nhớ từ lâu hơn, giao tiếp tốt và mang lại hiệu quả cao.
Để học sinh tiếp thu bài tốt đòi hỏi khi dạy từ mới, giáo viên cần phải lựa chọn các phương pháp cho phù hợp, chúng ta cần chọn cách nào ngắn nhất, nhanh nhất, mang lại hiệu quả cao nhất, là sau khi học xong từ vựng thì các em đọc được, viết được và biết cách đưa vào các tình huống thực tế.
 3. Các bước tiến hành giới thiệu từ mới:
* Bước giới thiệu bài, giới thiệu chủ đề: đây là bước khá quan trọng trong việc dạy từ vựng. Bước này sẽ quyết định sự thành công của tiết học, nó sẽ gợi mở cho học sinh liên tưởng đến những từ sắp học qua chủ điểm vừa mới được giới thiệu.
Điều quan trọng nhất trong giới thiệu từ mới là phải thực hiện theo trình tự: nghe, nói, đọc, viết. Đừng bao giờ bắt đầu từ hoạt động nào khác “nghe”. Hãy nhớ lại quá trình học tiếng mẹ đẻ của chúng ta, bao giờ cũng bắt đầu bằng nghe, bắt chước phát âm rồi mới tới những hoạt động khác. Hãy giúp cho học sinh của bạn có một thói quen học từ mới một cách tốt nhất:
- Bước 1: “nghe”, bạn cho học sinh nghe từ mới bằng cách đọc mẫu.
- Bước 2: “nói”, sau khi học sinh đã nghe được ba lần bạn mới yêu cầu học sinh nhắc lại. Khi cho học sinh nhắc lại , bạn cần chú ý cho cả lớp nhắc lại trước, sau đó mới gọi cá nhân.
- Bước 3: “đọc”, bạn viết từ đó lên bảng và cho học sinh nhìn vào đó để đọc. Cho học sinh đọc cả lớp, rồi đọc cá nhân và sửa lỗi cho học sinh tới một chừng mực mà bạn cho là đạt yêu cầu.
- Bước 4: “viết”, sau khi học sinh đã đọc từ đó một cách chính xác rồi bạn mới yêu cầu học sinh viết từ đó vào vở.
- Bước 5: bạn hỏi xem có học sinh nào biết nghĩa của từ đó không và yêu cầu một học sinh lên bảng viết nghĩa của từ đó bằng tiếng Việt.
- Bước 6: đánh trọng âm từ: phát âm lại từ và yêu cầu học sinh nhận diện âm tiết có trọng âm và đánh dấu.
- Bước 7: cho câu mẫu và yêu cầu học sinh xác định từ loại của từ mới học.
4. Các thủ thuật kiểm tra và củng cố từ mới
Chúng ta biết rằng chỉ giới thiệu từ mới thôi không đủ, mà chúng ta còn phải thực hiện các bước kiểm tra và củng cố. Các thủ thuật kiểm tra và củng cố sẽ khuyến khích học sinh học tập tích cực và hiệu quả hơn. Trong hoạt động này, chúng ta có thể sử dụng để kiểm tra từ mới. Sau đây là một số thủ thuật kiểm tra từ mới:
a.. What and where (giải thích – ví dụ)
- Mục đích của trò chơi này giúp học sinh nhớ nghĩa và cách đọc của từ. Thủ thuật này được áp dụng cho tất cả các từ có trong bài, thường là những từ dài và khó đọc.
- Viết một số từ lên bảng không theo một trật tự nào và khoanh tròn chúng lại.
- Sau mỗi lần đọc giáo viên lại xóa đi một từ nhưng không xóa vòng tròn.
- Cho học sinh lặp lại các từ kể cả từ bị xóa.
- Khi xóa hết từ, giáo viên cho học sinh viết lại các từ vào đúng chỗ cũ.
- Nếu thực hiện dưới dạng thi đua giữa các đội, giáo viên cần chuẩn bị bảng phụ có các vị trí giống bảng từ giáo viên vừa xóa lên bảng và phát cho các nhóm có thể thực hiện trên bảng phụ.
b. Rub out and Remember (giải thích – ví dụ)
- Mục đích của trò chơi này cũng giúp cho học sinh nhớ từ vựng lâu hơn,cũng gần giống như “What and Where” tuy nhiên cần áp dụng thay thế cho nhau để tránh sự nhàm chán cho học sinh.
- Sau khi viết một số từ đã học trong bài và nghĩa của chúng lên bảng, giáo viên cho học sinh lặp lại và xóa dần các từ Tiếng Việt hay Tiếng Anh.
- Chỉ vào nghĩa Tiếng Việt yêu cầu học sinh nói lại từ bằng Tiếng Anh và ngược lại.
- Cho học sinh viết lại từ Tiếng Anh bên cạnh nghĩa Tiếng Việt hoặc nghĩa Tiếng Việt bên cạnh từ Tiếng Anh.
- Giáo viên nên khuyến khích bằng điểm đối với các em viết đúng từ.
c. Slap the board (giải thích – ví dụ)
- Mục đích của trò chơi này cũng giúp cho học sinh nhớ từ vựng lâu hơn,cũng gần giống như “ROR” tuy nhiên cần áp dụng thay thế cho nhau để tránh sự nhàm chán cho học sinh.
- Sau khi viết một số từ đã học trong bài và nghĩa của chúng lên bảng, giáo viên cho học sinh chơi theo đội, mỗi đội từ 3-5 người .
- Giáo viên đọc từ có thể bằng Tiếng Việt hoặc Tiếng Anh và yêu cầu học sinh vỗ tay vào từ mà giáo viên đã đọc
- Giáo viên cho điểm đối với các em vỗ tay nhanh và đúng.
d. Matching (giải thích – ví dụ)
- Mục đích giúp học sinh ôn từ khi kết hợp từ với tranh, từ với nghĩa, hoặc từ với số.
- Tùy vào mục đích của từng bài, giáo viên có thể thiết kế hoạt động cho phù hợp. Có thể sử dụng trong phần dạy từ, hoặc trong trò chơi củng cố từ.
e. Bingo (giải thích – ví dụ)
- Đây là trò chơi nhằm giúp học sinh thực hành, ôn từ thông qua việc kết nối âm vói cách viết của từ.
- Giáo viên yêu cầu lớp suy nghĩ 8-10 từ theo một chủ điểm nào đó mà 
giáo viên yêu cầu và viết chúng lên bảng.
- Yêu cầu học sinh chọn 6 từ hoặc 9 từ bất kì và viết vào vở hoặc giấy.
- Giáo viên đọc từ tùy ý trong các từ đã viết ở trên bảng.
- Học sinh đánh dấu vào các từ đã chọn nếu nghe giáo viên đọc.
- Học sinh nào có 6 từ hoặc 9 từ được giáo viên đọc đầu tiên sẽ thắng trò chơi và hô “Bingo”.
f. Pair Race (giải thích – ví dụ)
- Mục đích của trò chơi này giúp học sinh thể hiện sự năng động, sử dụng được trò chơi này giúp các em vừa nhớ được từ vừa giúp các em phát âm từ đó một cách chính xác.	
- Tùy vào số lượng học sinh của lớp, giáo viên có thể xếp học sinh thành hai hàng.
- Đặt một số phiếu giáo viên lên rãnh phấn trên bảng.
- Giáo viên đọc to một từ bất kỳ nào trong phiếu.
- Hai học sinh đứng đầu hai hàng chạy đua lên bảng chạm tay vào phiếu có từ vừa gọi.
- Học sinh nào chạm tay vào trước và nói đúng từ đó thì được một điểm cho đội của mình.
- Cứ như thế cho đến học sinh cuối cùng của hàng.
g. Jumbled word (giải thích – ví dụ)
- Mục đích của trò chơi này nhằm giúp học sinh thực hành từ mới và chính tả của từ.
- Viết một số từ lên bảng hoặc vào tờ giấy A4 với các chữ cái xếp không theo thứ tự nhau.
- Yêu cầu học sinh sắp xếp lại các chữ cái để tạo thành từ có nghĩa.
- Học sinh có thể thực hiện thi đua giữa các nhóm, cặp hoặc cá nhân. 
- Cho các em đọc lại các từ vừa sắp xếp.
h. Chain game (giải thích – ví dụ)
- Trò chơi này nhằm luyện trí nhớ cho học sinh. Hoc sinh khi tham gia trò chơi này phải thật sự tập trung qua đó giúp học sinh nhớ từ lâu hơn. Ngoài ra, học sinh có cơ hội nói, phát âm rõ ràng các từ đã học.
- Chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ ngồi quay mặt với nhau.
- Học sinh đầu tiên trong nhóm lặp lại câu của giáo viên.
- Học sinh thứ 2 lặp lại câu của học sinh thứ nhất và thêm vào từ khác.
- Học sinh thứ 3 lặp lại câu của học sinh thứ nhất, thứ 2 và thêm vào một từ mới tiếp theo, cứ tiếp tục như vậy cho đến khi trở lại với học sinh thứ nhất trong nhóm.
i. Charades (giải thích – ví dụ)
- Mục đích của trò chơi này giúp các em nhớ một số từ mang tính chất miêu tả cảm xúc.
- Hoạt động này bao gồm nhiều dạng thức, nhưng tất cả đều dùng cử chỉ để diễn tả nghĩa.
- Đặt một số phiếu từ hoặc phiếu tranh úp mặt xuống bàn.
- Một học sinh nhặt 1 phiếu lên nhưng không báo cho cả lớp biết đó là từ gì.
- Học sinh đó phải dùng cử chỉ hoặc điệu bộ thể hiện nghĩa của từ đó.
- Yêu cầu các học sinh còn lại trong lớp đoán từ. 
- Giáo viên có thể khuyến khích học sinh đoán đúng từ bằng cách cho điểm.
- Cũng có cách đơn giản hơn là không dùng phiếu từ hoăc phiếu tranh, mà giáo viên ghé tai nói thầm cho một học sinh một từ nào đó. Học sinh ấy làm như trên.
j. Simon says (giải thích – ví dụ)
- Mục đích của trò chơi này nhằm giúp học sinh nhớ từ và thường được áp dụng cho câu mệnh lệnh ngắn.
- Giáo viên hô to các mệnh lệnh. 
- Học sinh chỉ làm theo các mệnh lệnh của giáo viên nếu giáo viên đọc câu mệnh lệnh bắt đầu bằng câu:“Simon says”.
- Giáo viên đọc câu mệnh lệnh, không có câu “Simon says”. Học sinh không được thực hiện mệnh lệnh đó. Nếu học sinh nào thực hiện sẽ bị loại ra khỏi cuộc chơi.
- Trò chơi này được áp dụng cho cả lớp, không nên chia theo nhóm hoặc cặp.
4. Hướng dẫn học sinh học từ vựng ở nhà
Để phát huy tốt tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập, thì chúng ta cần tổ chức quá trình dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động của người học, trong quá trình dạy và học, giáo viên chỉ là người truyền tải kiến thức đến học sinh, học sinh muốn lĩnh hội tốt những kiến thức đó, thì các em phải tự học bằng chính các hoạt động của mình.
Hơn nữa thời gian học ở trường rất ít, cho nên đa phần thời gian còn lại ở gia đình các em phải tổ chức cho được hoạt động học tập của mình. Làm được điều đó, thì chắc chắn hoạt động dạy và học sẽ ngày càng hoàn thiện hơn. Cho nên ngay từ đầu từ năm học, giáo viên cần hướng dẫn học sinh xây dựng hoạt động học tập ở nhà.
a. Học từ:
- Sau mỗi bài học, giáo viên yêu cầu học sinh về nhà luyện viết từ. Giáo viên có thể yêu cầu các em viết một số từ khó học hoặc một số từ dài. Mỗi một lần học sinh có thể viết 5 từ. Vì đây là học sinh tiểu học nên mục đích của việc luyện viết từ vừa giúp cho học sinh nhớ từ đồng thời giúp cho các em rèn chữ viết.
- Tiết học sau, học sinh mang vở cho giáo viên kiểm tra.
- Sau khi học từ vựng trên lớp, học sinh nên học từ ngay khi về nhà, không nên để cho đến tiết học tiếp theo mới học. Học sinh nên học thường xuyên, mỗi ngày học một hoặc ôn vài từ. Các em nên lập cho mình một thời gian biểu, quy định một khoảng thời gian nhất định trong ngày để học từ.
- Mỗi học sinh nên trang bị cho mình một cái bảng nhỏ để có thể thường xuyên viết từ. Các em nên viết một từ nhiều lần lên bảng (học sinh vừa viết kết hợp với đọc từ) để nhớ từ được lâu.
- Học sinh cũng có thể học từ thông qua một số bài hát hoặc bài thơ mà 
giáo viên đã dạy cho các em biết ở trường.
b. Ôn từ:
* Hướng dẫn các em làm những tấm thẻ bằng giấy, một mặt ghi từ, mặt còn lại các em có thể ghi nghĩa, hoặc vẽ tranh minh họa của từ đó. Những tấm thẻ bìa này các em có thể bỏ vào túi, vào cặp sách để mang theo bên mình hoặc có thể dán một vài nơi trong phòng của mình để học thường xuyên.
* KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Tôi thực hiện đề tài này chỉ là một phần trong tiết học, tuy nhiên nó đóng vai trò rất quan trọng cho việc thực hành mẫu câu, việc đối thoại có trôi chảy, lưu loát hay không đều phải phụ thuộc vào việc học thuộc lòng từ vựng và phát âm có chuẩn hay không.
Qua quá trình thực hiện các biện pháp dạy từ vựng Tiếng Anh trong năm học qua, kết quả đạt được như sau:
Lớp
TSHS
Điểm 9-10
Điểm 7-8
Điểm 5-6
Điểm dưới 5
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
5A
24
2
8,3
13
54,2
9
37,5
0
0
5B
24
3
12,5
15
62,5
6
25,0
0
0
5C
24
5
20,8
12
50,0
7
29,1
0
0
5D
24
4
16,7
13
54,2
7
29,1
0
0
Trong năm học vừa qua đơn vị Trường tiểu học Hải Ninh có học sinh tham gia dự thi IOE các cấp đạt kết quả như sau: 
Kỳ thi IOE cấp trường có 12 em dự thi: có 7 em đạt giải cấp trường ( Lớp 4 có 3 em đạt giải, lớp 5 có 4 em đạt giải)
Kỳ thi IOE cấp huyện có 06 em dự thi : có 06 em đạt giải cấp huyện (Trong đó có 05 giải ba và 01 giải khuyến khích)
 Kỳ thi IOE cấp tỉnh có 2 em lớp 5 được tham gia dự thi.
PHẦN III: KẾT LUẬN
3.1 Ý nghĩa của sáng kiến
Sau một thời gian vận dụng các thủ thuật giúp học sinh nhớ từ trên lớp và một số thủ thuật giúp học sinh nhớ từ khi ở nhà. Nguồn từ vựng của học sinh tăng lên rõ rệt. Có được nguồn từ vựng này sẽ giúp các em tích cực tham gia học tập, nghiên cứu, tự tin hơn trong thực hành và giao tiếp, góp phần nâng cao chất lượng của học sinh và hiệu quả giảng dạy của giáo viên. Như vậy, việc vận dụng các thủ thuật giúp học sinh nhớ từ ở trên lớp, không chỉ tạo không khí vui vẻ, phấn khởi học tập của học sinh, mà là một thủ thuật khoa học, sáng tạo của người thầy. Tôi tin rằng nếu tiếp tục thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này một cách nghiêm túc, xuyên suốt quá trình giảng dạy thì chất lượng học tập bộ môn Tiếng Anh trong trường Tiểu học Hải Ninh nói riêng mà còn trong cả huyện sẽ có được những kết quả khả quan hơn.
3.2 Kiến nghị, đề xuất
 - Về phía nhà trường cần tạo điều kiện về cơ sở vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập. Bộ môn Tiếng Anh phải có phòng học riêng, phòng học Tiếng có đầy đủ các thiết bị cung cấp cho việc dạy và học. Tranh thủ sự quan tâm chỉ đạo của Ban giám hiệu nhà trường mua sắm thêm các trang thiết bị dạy học như: Bộ con rối Domino, tranh ảnh phục vụ cho dạy học, thiết bị nghe nhìn, sách bổ trợ, nâng cao. Luôn kết hợp cũng như sự giúp đỡ của đồng nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy. Để đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục ở cấp Tiểu học, ngoài những yếu tố ngoại cảnh như chương trình, thời gian, trình độ của học sinh, khả năng chuyên môn của giáo viên. Điều quan trong nhất là phương thức tổ chức của giáo viên trong một tiết dạy. Theo tôi bất cứ phương pháp nào cũng cần có sự thống nhất và có tính khả thi để mọi giáo viên đều có thể dễ dàng thực hiện. (đặc biệt là phương pháp tổ chức hoạt động nhóm). 
- Về phía giáo viên cần có sự chuẩn bị thật chu đáo trước khi dạy, luôn chuẩn bị tốt đồ dùng học tập và dặn dò kỹ cho học sinh chuẩn bị bài mới sau khi dạy. Chủ động tìm hiểu những kiến thức chuyên sâu về tâm lí của học sinh, từ đó có những cách thức lựa chọn trò chơi phù hợp từng đối tượng học sinh và từng bài học, giúp nâng cao động lực học Tiếng Anh cho các em. Các thủ thuật giúp học sinh nhớ từ trên đa số được thực hiện dưới dạng các trò chơi nên không khí lớp học ít căng thẳng giúp cho tiết học sinh động và đạt hiệu quả cao. Giáo viên vận dụng các thủ thuật trên giúp học sinh nhớ từ không những ở trên lớp mà còn giúp học sinh nhớ từ khi ở nhà. Thái độ của giáo viên với học sinh cũng rất cần thiết, cần có thái độ cởi mở, chan hòa và vui vẻ với học sinh, biết khích lệ đúng lúc sẽ giúp các em tự tin hơn khi tham gia vào bài giảng. Tránh gây không khí gò bó nặng nề trong tiết dạy. Những câu nói vui đúng lúc sẽ có hiệu quả cao hơn nhiều những lời giáo huấn dài dòng mà phiến diện, từ đó giúp các em giảm được áp lực học tập. Cần có các chuyên đề Tiếng Anh liên trường nhằm học hỏi và trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau.
- Về phía học sinh cần có những buổi học ngoại khóa tạo điều kiện cho học sinh sử dụng Tiếng Anh một cách tự nhiên. Phải hứng thú học Tiếng Anh, có động cơ học, biết cách học và vận dụng từ vựng ở nhà. Các em phải thường xuyên thực hành nói Tiếng Anh, phải học thuộc từ vựng ở tiết trước. Các em có học được từ, nắm được nghĩa và các sử dụng vốn từ vựng trong thực hành giao tiếp. Như vậy các em sẽ có sự say mê trong việc học bộ môn này. Biết và vận dụng được một số cách học từ khi ở nhà. Ngoài ra các em phải tích cực chủ động trong việc học tập của mình.
 Đánh giá Hải Ninh, ngày 15 tháng 10 năm 2015
của hội đồng khoa học trường Người thực hiện
............................................
...........................................
...........................................
...........................................
	Trần Đình Chung
Ý KIẾN NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ
CỦA HỘI ĐỒNG THI ĐUA
1. CẤP TRƯỜNG:
* Nhận xét : 	
* Xếp Loại : 	
2. CẤP PHÒNG:
* Nhận xét : 	
* Xếp Loại : 	

File đính kèm:

  • dockn_day_tu_vung_mon_tieng_anh_15_16_1326.doc
Sáng Kiến Liên Quan