Biện pháp dạy tốt hội thoại trong môn Tiếng Việt lớp 5

I. Lý do chọn đề tài

 Trong cuốn Ngữ dụng học (GS - TS Đỗ Hữu Châu) : Lời nói không chỉ bao gồm sản phẩm của sự nói năng (văn bản) mà còn cả bao gồm các cơ chế (sinh lí, tâm lí) ,những quy tắc điều khiển sự sản sinh ra các sản phẩm đó.

Sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp là hoạt động bình thường của mọi người. Trong giao tiếp, hội thoại chiếm tỉ lệ thời gian rất lớn, nếu thống kê, có lẽ hội thoại chiếm đến 70 - 80% thời gian con người sử dụng ngôn ngữ trong một ngày. Nhiều việc đạt kết quả hay thất bại phụ thuộc vào kinh nghiệm tham gia hội thoại của từng người. Ngôn ngữ được sử dụng chủ yếu trong hội thoại. Giáo sư Đỗ Hữu Châu khẳng định: “ Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác ”

 (Đỗ Hữu Châu. Đại cương ngôn ngữ học - tập2, NXB Giáo dục-H.2003, tr201).

Trong văn chương, hội thoại cũng chiếm vị trí quan trọng. Các nhân vật trò chuyện, trao đổi với nhau tạo nên nhiều cuộc hội thoại khác nhau trong dòng diễn biến của cốt truyện. Các cuộc hội thoại góp phần bộc lộ tính cách nhân vật, bộc lộ mâu thuẫn, thúc đẩy sự phát triển của tình tiết truyện, của các tính cách nhận vật.

Hội thoại có vị trí quan trọng như thế trong đời sống và trong văn học nhưng một thời gian dài nó không được quan tâm nghiện cứu, không được đưa vào giảng dạy trong nhà trường; người ta cứ nghĩ rằng, trẻ dùng được tiếng mẹ đẻ thì đương nhiên đã biết nói và nghe, đã biết hội thoại. Đây là một quan niệm phiến diện. Việc đưa hội thoại vào nhà trường đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong nội dung cũng như trong phương pháp dạy tiếng mẹ đẻ và dạy ngoại ngữ. Việc chú ý đến dạy hội thoại trong nhà trường giúp học sinh giao tiếp ngày càng linh hoạt sinh động.

 

doc37 trang | Chia sẻ: myhoa95 | Ngày: 27/10/2018 | Lượt xem: 204 | Lượt tải: 0Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Biện pháp dạy tốt hội thoại trong môn Tiếng Việt lớp 5", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nh trong tổ, trong lớp. Các em đóng vai nhằm nhằm tập dượt theo đề bài tập hội thoại. Sản phẩm của các lần đóng vai là các màn hội thoại hoặc giao tiếp, các sản phẩm này sẽ được các bạn trong lớp phân tích, nhận xét, rút kinh nghiệm; nhờ đó, các lần tập dượt hội thoại tiếp theo đạt hiệu quả cao hơn, tốt hơn. Mục đích của việc đóng vai là hoàn thành một bài tập hội thoại; thông qua đó hình thành kĩ năng hội thoại, tích luỹ các kinh nghiệm ứng xử trong hội thoại để chuẩn bị cho các cuộc hội thoại đích thực các em sẽ trải qua trong cuộc đời.
	Khi đóng vai, học sinh cần chú ý không chỉ lời nói mà còn cả các động tác hình thể, cách biểu cảm trên nét mặt, trong giọng nói.. có tác động đến hiệu quả hội thoại.
	b) Khi tổ chức đóng vai thực hiện một tình huống giao tiếp giả định, ngoài hội thoại, giáo viên có thể dùng kết hợp thêm nhiều biện pháp để phát triển đề tài như: phiếu bài tập, đưa ra lời giải trên giấy, hỏi - đáp, sử dụng các đồ dùng dạy học
	c) Hội thoại trong hoạt động đóng vai được thực hiện trong mỗi giai đoạn của cuộc giao tiếp với những chức năng nhiệm vụ khác nhau:
Đoạn thoại mở đầu cuộc giao tiếp: bao gồm những nghi thức lời nói dùng trong lúc gặp gỡ, làm quen và các lời thoại giới thiệu đề tài giao tiếp.
Đoạn thoại triển khai đề tài giao tiếp: gồm những đoạn thoại của các nhân vật trò chuyện và thương lượng hay trình bày, phân tích trao đổi, thảo luận
Đoạn thoại kết thúc cuộc giao tiếp: gồm những nghi thức lời nói dùng trong lúc kết thúc cuộc giao tiếp.
3. Quy trình dạy bài hội thoại:
Cùng với văn bản, hội thoại cũng có hai phương diện cần xem xét: tiếp nhận hội thoại và sản sinh hội thoại. Người nghe hội thoại chủ yếu là tiếp nhận khi hội thoại đang diễn ra (cũng có trường hợp người nghe tiếp nhận cuộc thoại khi đã kết thúc, ví dụ: nghe thông qua lời kể, lời ghi âm, ) ; hội thoại là sản phẩm của nhiều người (tối thiểu là hai người) .
Nhà trường có dạy tiếp nhận và sản sinh hội thoại không?
Nhà trường khi dạy đọc và nghe các văn bản tự sự, khi dạy phân tích các ngữ liệu tự sự trong các phân môn của môn Tiếng Việt đều ít nhiều đề cập đến tiếp nhận hội thoại.
Nhà trường thực sự đưa việc dạy tiếng vào quá trình giao tiếp, thông qua học mà học sinh được hướng dẫn để tìm hiểu cách xác định đề tài, chủ đề, đích của hội thoại, phân biệt vai trò các đối tượng tham gia hội thoại, luyện tập cách mở đầu, kết thúc, cách phát triển cuộc thoại, luyện tập các kĩ năng trao lời và đáp lời Tức là các em được hướng dẫn để sản sinh hội thoại. 
Thông qua việc học hội thoại trong nhà trường, học sinh mới thực sự học cách sử dụng tiếng nói phong phú, đa dạng gắn với cuộc sống sôi động hàng ngày, hoạ tiếng nói trong giao tiếp và để giao tiếp.
	Theo PGS. TS Nguyễn Trí trong cuốn “ Một số vấn đề dạy hội thoại cho học sinh tiểu học” thì dạy hội thoại có thể được tiến hành theo quy trình ba bước chính như sau:
Bước 1: Phân tích tình huống hội thoại nêu ra trong đề bài.
Ở bước này, cần làm rõ các nội dung:
Đề tài hội thoại.
Nhân vật tham gia hội thoại.
Hoàn cảnh xã hội.
Môi trường xảy ra hội thoại.
Đích của hội thoại.
Vấn đề cần giải quyết qua hội thoại.
Bước 2: Phác hoạ diễn biến chính cuộc thoại bằng lời
Giáo viên cho học sinh dựa trên kết quả phân tích tình huống hội thoại, mỗi em nêu ra cách giải quyết vấn đề đặt ra trong bài tập. Các em dùng trí tưởng tượng kết hợp với các hiểu biết của bản thân liên quan đến đề tài để nêu ra khái quát các diễn biến chính trong một cuộc thoại. Dựa vào diễn biến chínhvà nội dung chủ yếu mà khi thực hành hội thoại học sinh sẽ tự tìm ra lời hội thoại cụ thể.
Bước 3: Thực hành hội thoại:
Giáo viên tổ chức cho học sinh thực hành cuộc thoại theo tình huống được bài tập đặt ra theo phươg pháp đóng vai.
Khi thực hành, dựa trên gợi ý những diễn biến chính của cuộc thoại, từng nhân vật phải tìm ra lời thoại của mình.
Tổ chức thực hành tối thiểu 2 lần hoặc nhiều hơn tuỳ thuộc theo quỹ thời gian. Sau mỗi lần thực hành, giáo viên và học sinh nhận xét về: 
Mức độ phù hợp của lời thoại với nội dung cuộc thoại, với hoàn cảnh xã hội, với môi trường và nhân vật tham gia hội thoại
Việc giải quyết vấn đề đặt ra trong cuộc thoại
Đích của hội thoại
Cách sử dụng ngữ điệu, các yếu tố phụ trợ cho lời nói
nhằm giúp cho lần thực hành sau phát triển các kết quả đạt được, khắc phục các nhược điểm của lần thực hành trước. 
4. Các kiểu bài tập về dạy hội thoại cho học sinh trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5:
Nội dung dạy hội thoại được được phân phối ở sách tiếng Việt lớp 5: Tập thuyết trình, tranh luận, chuyển thể các câu chuyện thành cuộc thoại. Cụ thể:
4.1. Kiểu bài tập dạy tập thuyết trình, tranh luận:
a) Cấu trúc của bài tập:
Bài tập này đưa ra một đề tài (mẩu chuyện hoặc bài ca dao ) , sau đó yêu cầu học sinh nêu ý kiến tranh luận, thuyết trình bằng cách mở rộng lí lẽ và dẫn chứng.
Bài tập 1: Hãy đóng vai một trong ba bạn Hùng, Quý, Nam (trong bài Cái gì quý nhất) nêu ý kiến tranh luận bằng cách mở rộng thêm lí lẽ và dẫn chứng để lời tranh luận thêm sức thuyết phục.
Mẫu: (Hùng) - Theo tớ, quý nhất là lúa gạo. Lúa gạo quý như vàng. Trong bài Hạ gạo làng ta, nhà thơ Trần Đăng Khoa đã gọi hạt gạo là “ hạt vàng làng ta ”. Lúa gạo nuôi sống tất cả mọi người. Có ai trong chúng ta không ăn mà sống được đâu?... (Bài tập 2 trang 91 - TV5, tập 1) 
* Với bài tập này, học sinh phải tạo ra được các đoạn thuyết trình ngắn phù hợp với tình tiết trong truyện nhằm thuyết phục người nghe.
Đây là bài tập đầu tiên giúp học sinh làm quen với thuyết trình, tranh luận nên đã có gợi ý sẵn ngay sau yêu cầu của bài nhằm định hướng cho học sinh. Điều này có ưu điểm và hạn chế nhất định:
+ Ưu điểm: 
- Học sinh có thể dựa vào mẫu để đóng vai Quý hoặc Nam trình bày ý kiến của mình một cách nhanh chóng, dễ dàng, không cần sáng tạo. 
- Phát huy được khả năng giao tiếp (thuyết trình, trao đổi, ) cho học sinh
+ Hạn chế:
- Tiếp thu bài thụ động, theo khuôn mẫu.
- Lí lẽ và dẫn chứng các em đưa ra thường ngắn, đơn giản, xoay quanh ý kiến của nhân vật trong bài
- Học sinh chưa gắn được ý kiến của các nhân vật trong bài với các vấn đề trong cuộc sống do vốn kinh nghiệm, ngôn ngữ của các em còn hạn chế. Do vậy mà ý kiến các em đưa ra thường chưa phong phú.
- Khả năng sáng tạo của học sinh chưa rõ ràng. 
b) Một số lưu ý khi hướng dẫn học sinh thực hiện bài tập:
- Thao tác 1: Đọc kĩ lại mẩu chuyện, xác định số ý kiến của các nhân vật, những điểm có lí của từng ý kiến mà các nhân vật nêu ra, đọc kĩ mẫu.
- Thao tác 2: Phân tích những điểm có lí trong từng ý kiến
- Thao tác 3: Sáng tạo thêm các các lí lẽ và dẫn chứng nhưng vẫn đảm bảo lí lẽ và dẫn chứng gốc. 
Bài tập 2: Dựa vào ý kiến của một nhân vật trong mẩu chuyện dưới đây, em hãy mở rộng lí lẽ và dẫn chứng để thuyết trình, tranh luận cùng các bạn:
Đất, Nước, Không Khí và Ánh Sáng đều tự cho mình là người cần nhất đối với cây xanh.
Đất nói:
- Tôi có chất màu để nuôi cây lớn. Không có tôi, cây không thể sống được!
Nước kể công:
- Nếu chất màu không có nước vận chuyển thì cây có lớn lên được không?
Không Khí chẳng chịu thua:
- Cây xanh rất cần khí trời. Không có khí trời thì tất cả cây cối đều chết rũ.
Còn Ánh Sáng nhẹ nhàng nói:
- Cây cối dù có đủ đất, nước, không khí nhưng thiếu ánh sáng thì sẽ không thể có màu xanh. Không có màu xanh thì còn gọi là cây xanh sao được!
 (Bài tập 1 trang 93 - TV5, tập 1) 
* Giống như bài tập 1, bài tập này học sinh phải tạo ra được các đoạn thuyết trình ngắn phù hợp với tình tiết trong truyện nhằm thuyết phục người nghe. Nhưng do là tiết thứ hai nên không cần có gợi ý sẵn ngay sau yêu cầu của bài. Điều này có ưu điểm và hạn chế nhất định: 
- Ưu điểm:
+ Học sinh tự do tìm lí lẽ và dẫn chứng theo quan điểm của mình.
+ Ý kiến đưa ra đa dạng, phong phú.
+ Học sinh tự khám phá ra kiến thức cho mình.
+ Tiếp thu bài nhanh, chắc chắn.
+ Phát triển khả năng sáng tạo lời thoại, ngôn ngữ, tư duy, khả năng lập luận có lí cho học sinh.
- Hạn chế: Những học sinh trình độ đại trà hoặc yếu sẽ gặp khó khăn trong việc sáng tạo được lời thoại, tìm lí lẽ, dẫn chứng. 
* Một số lưu ý khi hướng dẫn học sinh thực hiện bài tập:
- Thao tác 1: Đọc kĩ lại mẩu chuyện, xác định số nhân vật và ý kiến của các nhân vật, những điểm có lí của từng ý kiến mà các nhân vật nêu ra.
- Thao tác 2: Phân tích những điểm có lí trong từng ý kiến, sự cần thiết của từng thành phần: đất, nước, không khí, ánh sáng trong đời sống.
- Thao tác 3: Sáng tạo thêm các lí lẽ và dẫn chứng nhưng vẫn đảm bảo lí lẽ và dẫn chứng gốc. 
Bài tập 3: Hãy trình bày ý kiến của em nhằm thuyết phục mọi người thấy rõ sự cần thiết của cả trăng và đèn trong bài cao dao sau:
Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng
Đè ra trước gió còn chăng, hỡi đèn?
Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn
Cớ sao trăng phải chịu luồn đám mây?
Bài tập này giống bài tập 2, chỉ có một khó khăn khác đối với học sinh: đối với học sinh thành phố thì sự hiểu biết về sự cần thiết của chiếc đèn dầu trong cuộc sống trước khi có điện rất khó hình dung đối với các em, kinh nghiệm thực tế không có, mặt khác việc ngắm trăng đối với trẻ em thành phố là cái gì đó xa vời nên việc xâu chuỗi các sự kiện để tìm lí lẽ và dẫn chứng đưa ra nhằm thuyết phục được mọi 
người là rất khó nếu không có sự trợ giúp của giáo viên. Do vậy khi hướng dẫn học sinh thực hiện bài tập giáo viên nên thu thập tư liệu (tranh ảnh, băng hình, tin tức..) nhằm giúp học sinh hiểu rõ hơn về sự cần thiết của chiếc đèn dầu trong cuộc sống của ông cha ta, từ đó học sinh mới có thể thực hiện được bài tập đầy đủ, phát huy khả năng sáng tạo, ngôn ngữ cho học sinh, mặt khác tích hợp việc hiểu cuộc sống của con người cho học sinh.
4.2. Kiểu bài tập dạy chuyển thể các câu chuyện thành cuộc thoại :
a) Cấu trúc của bài tập:
Bài tập này nêu ra một đoạn chuyện hay một câu chuyện, sau đó yêu cầu học sinh chuyển thành một đoạn thoại hay một cuộc thoại theo một số gợi ý. Sách tiếng Việt 5 có một số bài tập theo kiểu này:
Bài tập 1: Tập viết đoạn đối thoại
1. Đọc đoạn trích sau của truyện Thái sư Trần Thủ Độ:
Có lần, Linh Từ Quốc Mẫu, vợ ông, muốn xin riêng cho một người làm chức câu đương. Trần Thủ Độ bảo người ấy:
- Ngươi có phu nhân xin cho làm chức câu đương, không thể ví như những câu đương khác. Vì vậy, phải chặt một ngón chân để phân biệt.
Người ấy kêu van mãi, ông mới tha cho.
2. Dựa theo nội dung của đoạn trích trên, em hãy cùng các bạn trong nhóm viết tiếp một số lời đối thoại để hoàn chỉnh màn kịch theo gợí ý sau:
Xin Thái sư tha cho! 
 Nhân vật: Trần Thủ Độ; một phú nông muốn xin làm chức câu đương; mấy anh lính hầu.
Cảnh trí: Công đường có đặt một án thư lớn. Trên án thư có một hộp bút, vài cuốn sách, một chiếc quạt. Trần Thủ Độ đang ngồi viết bên án thư. Hai bên có mấy người lính đứng cung kính.
Thời gian: Buổi sáng
Gợi ý lời đối thoại:
- Trần Thủ Độ lệnh cho lính hầu mời cho phú nông vào.
- Trần Thủ Độ hỏi tên tuổi, nguyện vọng của phú nông.
- Trần Thủ Độ hỏi phú nông về chức phận của câu đương
- Phú nông trả lời, chứng tỏ rất ít hiểu biết về chức phận của câu đương.
- Trần Thủ Độ bảo phải chặt một ngón chân của phú nông để đánh dấu.
- Phú nông sợ hãi kêu van xin tha.
- Trần Thủ Độ tha cho anh ta.
Lính: - (Bước vào) Bẩm Thái sư! Người nhà phu nhân đã tới rồi ạ.
Trần Thủ Độ: - Cho anh ta vào!
 (Lính đi ra, sau đó dẫn vào một người khoảng 30 tuổi, ăn
 mặc kiểu nhà giàu nhưng hơi quê kệch) .
Phú nông: - Lạy Đức Ông!
Trần Thủ Độ: - Ngươi có phải là Đặng Văn Sửu không?
Phú nông: ..
 (Bài tập 1-2 (trang 77,78) - Tiếng Viết 5, tập 2) 
	Thực hiện bài tập này, học sinh có nhiệm vụ cần tạo ra các đoạn đối thoại phù hợp nội dung câu chuyện. Học sinh sẽ gặp một số khó khăn:
	- Các em phải huy động chủ yếu vốn sống gián tiếp về nhà Trần mới là được bài tập, trong khi vốn sống này ở đa số các em hầu như chưa có gì.
	- Các em chưa được hướng dẫn cách chuyển thể câu chuyện thành đoạn thoại.
Bài tập 2: Tập viết đoạn đối thoại
1. Đọc đoạn trích dưới đây của truyện Thái sư Trần Thủ Độ:
Linh Từ Quốc Mẫu ngồi kiệu đi qua chỗ thềm cấm, bị một người quân hiệu ngăn lại. Về nhà, bà khóc:
 - Tôi là vợ thái sư mà bị kẻ dưới khinh nhờn.
Ông cho bắt người quân hiệu đến. Người này nghĩ là phải chết. Nhưng khi nghe anh ta kể rõ ngọn ngành, ông bảo: 
- Ngươi ở chức thấp mà biết giữ phép nước như thế, ta còn trách gì nữa!
Nói rồi, lấy vàng, lụa thưởng cho.
2. Dựa theo nội dung của đoạn trích trên, em hãy cùng các bạn trong nhóm viết tiếp một số lời đối thoại để hoàn chỉnh màn kịch sau:
Giữ nghiêm phép nước 
Nhân vật: Trần Thủ Độ; Linh Từ Quốc Mẫu; người quân hiệu; một vài người lính và gia nô.
Cảnh trí: Một căn phòng rộng có kê án thư, trên có hộp bút, mấy cuốn sách, một chiếc quạt. Trần Thủ Độ đang ngồi đọc sách.
Thời gian: Khoảng gần trưa.
Gợi ý lời đối thoại:
- Linh Từ Quốc Mẫu phàn nàn với Trần Thủ Độ về chuyện bà bị người quân hiệu coi thường
- Trần Thủ Độ lệnh cho quân lính đi bắt người quân hiệu.
- Quân lính áp giải người quân hiệu vào.
- Trần Thủ Độ hỏi người quân hiệu có đúng là anh ta bắt vợ ông xuống kiệu không, có biết bà là phu nhân của thái sư không.
- Người quân hiệu khẳng định là anh ta biết và kể lại đầu đuôi câu chuyện.
- Trần Thủ Độ khen ngợi, thưởng vàng và lụa cho người quân hiệu.
 (Linh Từ Quốc Mẫu bước vào phòng, vẻ mặt buồn bực như vừa khóc) 
Trần Thủ Độ: - (Ngạc nhiên) Phu nhân sao thế?
Linh Từ Quốc Mẫu: - (Tấm tức) Phép nước bây giờ đảo lộn hết rồi! Một tên 
 quân hiệu mà dám hỗn với cả vợ thái sư. Như thế thì 
 còn trên dưới gì nữa!
Trần Thủ Độ: - Bà hãy bớt nóng giận đi! Kể cho tôi nghe đầu đuôi câu 
 chuyện thế nào đã!
Linh Từ Quốc Mẫu: - Hôm nay tôi có việc qua cửa Bắc. Có tên quân hiệu 
 nhất định bắt tôi xuống kiệu. Ông nghĩ xem: Tôi là vợ 
 quan thái sư, thế mà kẻ dưới dám khinh nhờn là thế nào?
Trần Thủ Độ: 
Bài tập 3: Tập viết đoạn đối thoại
1. Đọc đoạn một trong hai phần sau đây của truyện Một vụ đắm tàu:
a) Phần I: Từ đầu đến gỡ chiếc khăn đỏ trên mái tóc băng cho bạn. Có thể đặt tên phần này là Làm quen hoặc Giu-li-ét-ta.
b) Phần II: Từ cơn bão dữ dội bất ngờ nổi lên đến hết. Có thể đặt tên phần này là Cơn bão hoặc Marli-ô.
2. Em hãy cùng các bạn trong nhóm viết tiếp một số lời đối thoại để chuyển một trong hai phần nói trên thành màn kịch theo gợi ý sau:
Màn 1: Giu-li-ét-ta 
Nhân vật: Giu-li-ét-ta, Ma-ri-ô, một vài hành khách và thuỷ thủ.
Cảnh trí: Buổi chiều tối, trên boong một chiếc tàu thuỷ giữa đại dương, 
 Giu-li-ét-ta đang đứng tựa vào lan can, nhìn ra biển. Xung quanh em, một vài hành khách và thuỷ thủ đang trò chuyện với nhau về 
 biển, về thời tiết hoặc về con tàu. 
Gợi ý lời đối thoại:
- Giu-li-ét-ta và Ma-ri-ô chào nhau, làm quen với nhau.
- Từng bạn kể về mình, về gia đình, về mục đích của chuyến đi.
- Hai bạn chia tay, hẹn ngày mai gặp lại.
- Giu-li-ét-ta kêu lên khi thấy bạn bị xô ngã và an ủi bạn khi băng bó cho bạn.
Ma-ri-ô : - (Bước đến bên Giu-li-ét-ta) Xin lỗi. Mình có làm phiền cậu không?
Giu-li-ét-ta: - (Vui vẻ) Ồ không, không! Mình đang nghĩ xung quanh chỉ toàn ngưới lớn, chẳng biết nói chuyện với ai. Cậu tên là gì? 
Ma-ri-ô: - Mình là Ma-ri-ô, 12 tuổi. Còn cậu?
Giu-li-ét-ta: - Mình là Giu-li-ét-ta, cũng 12 tuổi.
Ma-ri-ô: - Cậu có vẻ lớn hơn tuổi đấy! Cậu đi cùng bố mẹ à?
Giu-li-ét-ta: 
Màn 2: Ma-ri-ô 
Nhân vật: Ma-ri-ô, Giu-li-ét-ta, một số phụ nữ, trẻ em và một thuỷ thủ.
Cảnh trí: Ban đêm. Cơn bão dữ dội. Những đợt sóng khủng khiếp phá thủng 
 thân tàu. Con tàu đang chìm dần, nước tràn ngập các bao lơn. 
 Ma-ri-ô và Giu-li-ét-ta hai tay ôm chặt cột buồm, khiếp sợ nhìn mặt
 biển. Chiếc xuồng cuối cùng được thả xuống biển. 
Gợi ý lời đối thoại:
- Trong cơn bão Giu-li-ét-ta và Ma-ri-ô sợ hãi nhắc nhau: “ Cẩn thận”!
- Một người kêu lên: “ Còn một chỗ đấy! Chỗ cho đứa nhỏ thôi! Xuống mau!”.
- Ma-ri-ô nhường chỗ cho Giu-li-ét-ta, thả bạn xuống nước.
- Mọi người bảo nhau kéo Giu-li-ét-ta lên xuồng.
- Giu-li-ét-ta bật khóc nức nở, vẫy tay nói lời vĩnh biệt bạn.
Ma-ri-ô : - (Hét to) Giu-li-ét-ta! Cẩn thận! Giữ chặt nhé! 
Giu-li-ét-ta: - (Hét to đáp lại) Ma-ri-ô! Tàu đang chìm. Mình sợ lắm! 
Ma-ri-ô: - (Hét to) đừng sợ, Giu-li-ét-ta! Trông kìa, có một chiếc xuồng!
Người dưới xuồng: .....
b) Một số lưu ý khi hướng dẫn học sinh thực hiện bài tập:
- Thao tác 1: Đọc kĩ câu chuyện, xác định số nhân vật và quan hệ giữa các nhân vật; tách riêng từng sự kiện xảy ra.
Ví dụ: trong bài tập 1: đoạn trích truyện Thái sư Trần Thủ Độ có:
+ 3 nhân vật: Linh Từ Quốc Mẫu, Trần Thủ Độ, người muốn xin chức câu đương. 
+ 2 sự kiện: Việc Linh Từ Quốc Mẫu xin chức câu đương cho một người thân và cách xử trí của Trần Thủ Độ đối với người xin chức câu đương.
Do Linh Từ Quốc Mẫu không xuất hiện để tham gia trực tiếp cuộc thoại nên sự kiện thứ nhất có thể lược bớt.
- Thao tác 2: Phân biệt rõ trong các sự kiện dự kiến sẽ chuyển thể thành đoạn thoại:
+ Hành động , hoạt động của các nhân vật và trình tự xảy ra (giúp cho việc xác định và sắp xếp các hành động, hoạt động của các đối tượng tham gia hội thoại, phân định thứ tự các lượt lời. 
+ Ý nghĩa, lời nói của các nhân vật được kể lại gián tiếp (Giúp cho việc xây dựng thành các lời thoại trực tiếp của các đối tượng tham gia hội thoại) . 
Thao tác 3: 
+ Sáng tạo thêm các nhân vật đệm hoặc các lời thoại để diễn giải hoặc nối các sự kiện, các hoạt động của các nhân vật tạo nên sự liền mạch cho cuộc thoại. 
+Thao tác ghi chép lại cuộc thoại vừa hoàn thành, sau đó sửa chữa, hoàn chỉnh.
PHẦN 3 
 KẾT LUẬN 
	Qua quá trình nghiên cứu nội dung hội thoại trong môn Tiếng Việt lớp 5 ở tiểu học em thấy, đây là một nội dung mới nhưng có vai trò quan trọng trong đời sống cũng như trong văn chương. Giờ học có nội dung hội thoại nếu được tổ chức hợp lí sẽ kích thích được hứng thú học tập, rèn luyện sự tự tin cũng như trau dồi kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp và để giao tiếp cho học sinh. Tuy nhiên nội dung từng bài tập hội thoại còn có sự tích hợp ở một số nội dung khác của các phân môn trong môn Tiếng Việt. Vì vậy, mỗi giáo viên cần nắm vững chương trình môn Tiếng Việt của lớp mình phụ trách cũng như của cả cấp học để có những hiểu biết nhất định về hội thoại, về vai trò của hội thoại , trau dồi vốn sống, vốn giao tiếp, từ đó có phương pháp cũng như cách thức, con đường chuyển tải nội dung dạy cho học sinh một cách tự nhiên, gợi mở, chân thật, phù hợp, không gò bó. Giúp học sinh phát triển toàn diện. 
Bên cạnh đó, nhà trường còn cần tạo điều kiện và tổ chức cho học sinh tham gia nhiều hơn nữa vào các hoạt động tập thể với các chủ đề gần gũi, thân thuộc, phù hợp với lứa tuổi của các em để các em có cơ hội trau dồi khả năng giao tiếp, học hỏi lẫn nhau qua giao tiếp, nhất là khả năng tham gia hội thoại với nhiều người trong một cuộc giao tiếp, các em nói theo cách nghĩ và cách nói của mình, không gượng ép.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Chu Thị Thủy An, Lý luận dạy học Tiếng Việt và Văn học ở tiểu học, Trường Đại học Vinh, 2000.
Chu Thị Thủy An, Chu Thị Hà Thanh , Dạy học Luyện từ và câu ở tiểu học, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2009.
Đỗ Hữu Châu, Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB GD, Hà Nội, 1999.
Nguyễn Thị Hạnh , Dạy học đọc hiểu ở tiểu học, NXB Đại học Quôc gia Hà Nội 2002.
Phạm Minh Hùng, Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, Trường Đại học Vinh, 2004.
Trịnh Thị Hương, Một số biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 4, Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Đại học Vinh, 2009.
Phạm Thị Hồng Mai, Dạy học kiểu bài mở rộng vốn từ ở lớp 4, 5 theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, Luận văn thạc sỹ Giáo dục học, Đại học Vinh, 2009.
Nguyễn Bá Minh, Nguyễn Thị Mỹ Trinh, Tiểu mô đun Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Dự án phát triển giáo viên tiểu học, 2006.
Lê Phương Nga, Tìm hiểu vốn từ của HS tiểu học, Nghiên cứu Giáo dục (8), 1974.
Lê Phương Nga, Đỗ Xuân Thảo, Lê Hữu Tỉnh, Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học 1, NXB ĐHSP, Hà Nội, 2009.
Lê Phương Nga, Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học 2, NXB ĐHSP, Hà Nội, 2009.
Lê Phương Nga, Nguyễn Trí, Phương Pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999.
Lê Phương Nga, Dạy học tập đọc ở tiểu học, NXB GD, Hà Nội, 2001.

File đính kèm:

  • docbien_phap_day_tot_hoi_thoai_trong_tviet_5_1955.doc
Sáng Kiến Liên Quan